Tin tức

Tổ chức công việc cho trại heo

Việc quản lý đàn trong chăn nuôi heo là vấn đề cần chú ý cho tất cả các trang trại chăn nuôi. Quản lý như thế nào để chăn nuôi heo có năng suất tốt, sử dụng tài nguyên địa phương tốt, có hiệu quả kinh tế cao và đảm bảo tính bền vững

[http://agriviet.com]

Không những thế việc quản lý đàn heo còn có quan hệ tới việc xác định qui mô, cơ cấu đàn, tỷ lệ đực/cái thích hợp, tỷ lệ chọn lọc và loại thải, phương pháp chu chuyển (kế hoạch sản xuất) một cách thích hợp và thuận lợi cho các điều kiện chăn nuôi của họ, các hoạt động quản lý sức khỏe và dịch bệnh.

 

1. Xác lập quy mô và cơ cấu đàn

- Xác lập quy mô đàn

Xác lập qui mô đàn là xác định số đầu heo cần nuôi trong một cơ sở sản xuất, nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường, đồng thời đảm bảo cân đối giữa yêu cầu của đàn heo và khả năng đáp ứng của cơ sở về tài chính, giống, thức ăn, chuồng trại, cơ sở vật chất kỹ thuật và năng lực quản lý của cơ sở đó. trên cũng có thể hiểu là số đầu heo sau khi cai sữa có mặt thường xuyên trong 1 cơ sở chăn nuôi. Nếu ở cơ sở sản xuất giống thì chúng là số heonái sinh sản và đực giống. Ở cơ sở chăn nuôi tổng hợp bao gồm heo nái sinh sản,  đực giống, heo con sau cai sữa là heo thịt. Có thể tham khảo đề xuất các qui mô đàn trong chăn nuôi heo công nghiệp. Tuy nhiên khi xây dựng qui mô người chăn nuôi cần xem xét các điều kiện liên quan.

Quy mô lớn                 200 – 500 nái

1000 – 2000 lợn thịt

Quy mô vừa                50 – 100 nái

500 – 1000 lợn thịt

Quy mô nhỏ                30 – 50 nái

100 – 300 lợn thịt

 

Những căn cứ để xác lập quy mô đàn:

- Khả năng tài chính

- Nhiệm vụ, phương hướng của kế hoạch sản xuất. Nhu cầu thị trường và các chỉ tiêu của nhà nước giao cho (nếu có). Bao gồm heo thịt, heo con giống xuất bán, phân cho cây trồng hay các mục đích khác.

- Trình độ quản lý, cơ sở vật chất kỹ thuật của cơ sở chăn nuôi.

- Cơ sở chuồng trại – Lao động

- Kinh doanh

 

2. Các hệ thống chăn nuôi heo ở nước ta

Thật là khó khăn để làm rõ ranh giới của các hệ thống chăn nuôi heo cho việc quản lý đàn heo ở các hệ thống chăn nuôi rất khác nhau. Theo mỗi một nước, người chăn nuôi có thể xác định phương pháp quản lý theo cách riêng của họ. Tuy nhiên việc  xác định qui mô, cơ cấu đàn và từng hệ thống chăn nuôi ở trong một phạm vi không gian nhất định nào đó là cần thiết và cũng chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố tác động và có sự tác động lẫn nhau đến kết quả sản xuất của họ.

 

- Hệ thống chăn nuôi heo bán công nghiệp

Quy mô đàn heo khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Chẳng hạn như quy mô đàn ở Philippines từ 25 – 50 nái, ở Việt Nam từ 50 – 100 nái và ở Thái Lan là 200 – 500 nái. Trong hệ thống sản xuất này, chăn nuôi hầu hết dựa vào thức ăn công nghiệp và có năng suất tương đối cao. Ở nước ta, hệ thống chăn nuôi này chủ yếu tập trung ở các khu vực cận đô của thành phố lớn như Hồ Chí Minh và Hà Nội. Có chương trình vắc xin và công tác thú y được thực hiện bài bản.

 

- Hệ thống chăn nuôi heo công nghiệp

Hệ thống chăn nuôi heo đã được phát triển ở nước ta trong những năm gần đây và một số nước quanh ta như Thái Lan, Phillipines. Ở nước ta, chủ yếu do các doanh nghiệp nước ngoài và liên doanh đầu tư, có một số doanh nghiệp nhà nước, tất cả các doanh nghiệp này đã tổ chức theo hình thức chăn nuôi heo theo một hệ thống chăn nuôi hiện đại. Ví dụ: Xí nghiệp chăn nuôi heo Phú Sơn, Trại giống cấp 1 thành phố thành phố Hồ Chí Minh, , Cơ sở chăn nuôi lợn của Viện chăn nuôi quốc gia… Các cơ sở chăn nuôi này đều có qui mô từ 500 hoặc 1000 heo thịt. Hệ thống chăn nuôi kiểu này chưa phổ biến ở các nước đang phát triển bởi vì đòi hỏi phải có sự đầu từ lớn và rủi ro rất cao khi khả năng quản lý chưa thật tốt.

3. GÂY DỰNG ĐÀN HEO

Muốn quản lý đàn heo tốt chúng ta phải dựa trên các chỉ tiêu kế hoạch hay nhu cầu của thị trường và tình hình thực hiện các chỉ tiêu đó nhằm duy trì được quy mô đàn và chất lượng đàn heo. Theo dõi sự diễn biến của đàn heo thông qua phiếu và sổ sách ghi chép đầy đủ và chính xác. Để gây dựng được đàn heo, bước đầu thật không dễ dàng, đặc biệt ở các nông hộ. Vì vậy trong gây dựng đàn heo cần phải thực hiện các bước sau:

 

Dựa vào

- Nhu cầu thị trường (trong và ngoài nước) về số lượng, chất lượng thịt heo, con giốngheo:

- Các chỉ tiêu kế hoạch của nhà nước và khả năng cung ứng của các trường về thức ăn, vật tư kỹ thuật, thú y… theo hàng tháng, hàng quý.

- Tình hình thực tiễn của cơ sở sản xuất về nguồn lao động, trang bị vật chất kỹ thuật, vốn, đất đai…

 

Tổ chức gây con giống ban đầu cho cơ sở chăn nuôi heo

Khi xây dựng một trại chăn nuôi hay cơ sở chăn nuôi thì cơ sở đó phải đầu tư vốn để mua giống heo gây dựng cho cơ sở của mình. Muốn vậy khi mua giống cần lưu ý:

- Mua giống phù hợp với tình hình phát triển chăn nuôi hiện thời và phù hợp với điều kiện chăn nuôi của địa phương.

- Số lượng cái và đực bao nhiêu phải tính toán có khoa học, dựa vào chương trình công tác giống heo để tính toán.

- Mua lợn ở cơ sở giống heo đảm bảo đủ tiêu chuẩn chất lượng của phẩm giống và được chọn lọc một cách nghiêm ngặt về chất lượng.

- Nên mua heo đã nuôi kết thúc ở giai đoạn thứ nhất (tùy thuộc vào điều kiện đầu tư vốn).

- Heo đực giống nên mua số lượng nhiều hơn dự kiến để có thể chọn sau khi chuyển lên sử dụng.

- Khi mua heo phải biết rõ lý lịch của lợn đến đời ông bà của chúng.

4. QUẢN LÝ ĐÀN HEO

Theo dõi ghi chép đàn heo

Trong trại chăn nuôi phải sử dụng một hệ thống phiếu để ghi chép và theo dõi đànheo. Mỗi loài heo có một loại phiếu khác nhau.

 

Các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật:

- Trọng lượng bình quân đầu kỳ :

- Trọng lượng bình quân cuối kỳ :

- Tổng số thức ăn chi phí :

- Chi phí thức ăn/kg tăng trọng :

5. Tổ chức sản xuất

Đây là một quy trình hoạt động trong trại chăn nuôi theo thứ tự nhất định nhằm mục đích nâng cao năng suất và thu nhập.

Nhiệm vụ:

- Thông báo được kết quả sản xuất của đàn heo.

- Tính toán giá cả của sản phẩm

- Thiết lập được bảng tính toán đầu ra và đầu vào của trại chăn nuôi

Phân tích kết quả: Quá trình này được thực hiện theo các bước sau:

-  Thiết lập một hệ thống ghi chép đầy đủ các loại heo có mặt trong trại.

-  Tính toán các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật đạt được của trại chăn nuôi heo

-  Phân tích kết quả và so sánh kết quả của trại vói các cơ sở khác.

-  Đề nghị các biện pháp kỹ thuật để nâng cao năng suất sản xuất của đàn heo.

-  Tổng kết và báo cáo kết quả cho người quản lý cao nhất.

Heo rừng thấu nước mắm

Chuyên mục nội trợ kỳ này gửi tới các bạn món ăn mới do chuyên gia Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân hướng dẫn cách làm, chúng ta hãy cùng bắt tay làm nhé!

Vật liệu:

500g thịt ba rọi; 1 nhánh gừng, 2 quả ớt cay, 2 tép tỏi; 200ml nước mắm ngon; 400g đường trắng; muối.

Thực hiện:

Thịt ba rọi cắt miếng lớn. Nấu một nồi nước sôi, cho muối vào, luộc thịt cho chín tới, vớt ra, thả vào tô nước lọc ngâm khoảng năm phút. Vớt ra, để nguội, cắt lát mỏng vừa ăn. Nước mắm + đường nấu sôi, để nguội.

Xếp thịt vào thố thuỷ tinh hay sành, rưới nước mắm vào ngập thịt, cho thêm tỏi + gừng + ớt. Thấu khoảng hai ngày là dùng được. Món này có thể dùng trong các ngày tết, để được khá lâu, khoảng một tháng không hỏng. Khi ăn dọn kèm rau sống, bánh tráng, dùng chính nước ngâm thịt để chấm.

 (Theo SGTT)

 

Thịt sạch là như thế nào ?

 

Chúng ta thường nghe đến rau quả sạch, trứng sạch…, nhưng lại quên rằng thịt cũng có thể được lấy từ gia súc nuôi bằng thức ăn thực vật “sinh học”… với một quy trình phù hợp với tự nhiên. Thịt đó chính là “thịt sạch”.

Nói đơn giản hơn là chăn nuôi theo kiểu truyền thống, đó là một phương pháp chăn nuôi đáp ứng “sự thoải mái và tiện nghi” một cách tối ưu mà mỗi loài gia súc đòi hỏi . Mật độ tập trung, tăng trưởng và tăng cân một cách tự nhiên, theo nhịp sinh học của mỗi chủng loại; phối giống, sinh sản theo cách cổ truyền, “tôn trọng” bản năng tự nhiên của con vật, tùy thuộc vào đặc điểm của từng giống,loài…

Thịt sạch là sản phẩm không có thuốc, kháng sinh, hormon, chất kích thích tăng trưởng… Gia súc chỉ ăn cỏ rơm hay ngũ cốc có chứng nhận sinh học không thuốc trừ sâu hay phân bón hóa học. Để được xác nhận là thịt sạch, thịt cần có những tiêu chuẩn sau đây:

Điều kiện chăn nuôi :

Kỹ thuật nuôi và môi trường phải thuận lợi đối với sức khỏe gia súc mà không bỏ qua nhu cầu và tập quán bầy đàn. Người chăn nuôi phải đảm bảo cho gia súc của mình có đủ chỗ, không khí thông thoáng và ánh sáng tự nhiên; thả bầy ra ngoài trong thời gian tối đa khi khí hậu cho phép; thức ăn tự do và luôn đủ nước uống sạch, chất lượng tốt; chuồng trại đủ rộng để có thể đứng, ngủ, nghỉ ngơi, quay tới lui, tắm và làm mọi đông tác tự nhiên (như vươn giũi, sải-đập cánh và có ổ sạch – đối với gia cầm). Đối với bò, dê, cừu… thì sàn phải sạch mà không trơn và có chỗ nằm lót rơm đủ độ dày; cách nhốt từng con riêng biệt hay cột vào cọc là không được chấp nhận. Đối với thủy cầm thì phải có một diện tích nước ao hồ đủ rộng. điểm chung là phải có dẫy nhà trú ẩn thông thoáng và tách biệt với chỗ cư trú của người.

Các thủ thuật can thiệp:

Thường không được cho phép; tuy nhiên, việc thiến bê hay heo con, bẻ răng nanh heo con, cắt ngắn đuôi cừu con, cắt sừng hoặc cắt bớt mỏ… đều được cho phép nếu nằm trong hoàn cảnh vì lý do an toàn hay cải thiện sức khỏe và sự thoải mái của vật nuôi. Tất cả những thủ thuật này chỉ được thực hiện sau khi gây mê và ở độ tuổi thích hợp. Trường hợp đốt sừng hay thiến gia súc non bằng cách thắt dây thun thì không cần phải gây mê. Thủ thuật nuôi thúc ngỗng, gà, vịt cũng bị cấm.

Chế độ ăn phù hợp :

Chế độ ăn phải cân bằng, tuân thu nghiêm ngặt theo nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi, và đặc biệt có chất lượng.Thúc đẩy hay làm chậm lại quá trình tăng trưởng, với bất cứ sản phẩm tổng hợp nào, đều bị nghiêm cấm. Tất cả thực phẩm đều phải được chế biến hay sản xuất theo thông số và tiêu chuẩn sinh học được đề ra. Thức ăn của gia súc nhai lại phải có 60% là rơm hay cỏ, trong đó có 25% là rơm khô trong những lúc gia súc không được thả rong. Loại thực phẩm này không được cho thêm phụ gia hóa học. Chỉ có các thành phần vi sinh hay enzym, mật ong, muối và lactosérum, acid lactique trong trường hợp thời tiết không thuận lợi cho sự không lên men. Chất bã thực vật sử dụng làm thực phẩm phải được chứng nhận là sản phẩm sạch. Quy định cũng nghiêm cấm nuôi gia súc nhai lại bằng mọi sản phẩm từ động vật có vú, ngoài sữa và các chế phẩm từ nó. Chế phẩm từ cá và hải sản được cho phép ở số lượng nhỏ trong khẩu phần ăn, miễn sao không có chứa thành phần bảo quản không cho phép. Những thành phần khác từ động vật bị nghiêm cấm.

Ngũ cốc, hạt xay, thực phẩm bổ sung chỉ được chiếm 40% khẩu phần ăn hàng ngày. Khoáng chất, vitamin và chiết xuất thực vật, muối và những thực phẩm khác có nguồn gốc tự nhiên có thể được dùng theo nhu cầu.

So sánh chất lượng dinh dưỡng của thịt sạch và thịt thường:

· Protein: 10-20% thấp hơn nhưng các acid amin cân bằng hơn – vì ngũ cốc sạch có hàm lượng protein thấp hơn làm thay đổi chất lượng thịt, song cũng khiến thành phần acid amin thiết yếu cân bằng hơn.

· Glucid: không có sự khác biệt

· Lipid (acid béo thiết yếu): hàm lượng acid linoleic (ALC), omega-3, omega-6 cao hơn 3,67 lần. Còn thành phần béo trans thì lại thấp hơn 2,73 lần.

Có thể thấy, thịt sạch từ quá trình “chăn nuôi sạch” có lợi và an toàn hơn cho sức khỏe. Một lợi ích khác khi tiêu thu thịt sạch – là góp phần vào sự phát triển của một nền nông nghiệp bền vững, tôn trọng môi trường và phù hợp với thiên nhiên…

Theo http://www.foopro.com.vn

 

Cảnh giác với việc ‘Phù phép’ lợn nái thành lợn rừng

 

Lợn nái già được xăm lông rồi mang đi tiêu thụ ở các nhà hàng, quán nhậu. Bao tử chó thành bao tử… nhím. Thực khách vô tư thưởng thức “đặc sản rừng” mà không hay biết mình bị lừa.

Trung tâm chuyên chế biến lợn nái thành lợn rừng nằm ở xã Xuân Hưng (Xuân Lộc, Đồng Nai). Nơi đây có hàng chục lò đang “sản xuất” ngày đêm cung cấp “lợn rừng” cho TP HCM, Đồng Nai, Bình Thuận và các vùng lân cận.

Khâu đầu tiên của các lò chế biến này là đi thu mua lợn nái đã bị “sa thải”, không còn đẻ được nữa. Nếu chọn được con màu đen hay khoang trắng, khoang đen càng tốt và thường được mua với giá khoảng 15.000 đồng một kg.

Sau đó, lợn nái già được tống vào chuồng và mỗi ngày chỉ cho uống một lần nước pha với cám loãng để cầm hơi. Mục đích của việc “tra tấn” này là làm cho lợn thật gầy, teo bớt mỡ cho giống lợn rừng. Thông thường, mỗi con bị “tra tấn” kiểu này chỉ một tháng là đạt yêu cầu. Có con do quá kiệt sức ngã lăn ra chết cũng được lôi vào chế biến.

Xăm lông lên lợn nái. Ảnh: PL TP HCM.

Sau khi xẻ thịt, cạo lông, người ta dùng đèn khò (loại sử dụng khí đá để đốt) xì lên da lợn cho vàng rộm như da bê thui. Sau đó thịt được ướp đá một ngày đêm. Kế tiếp là công đoạn quan trọng nhất: xăm lông. Để xăm, họ dùng bốn chiếc kim cột chặt vào một đầu đũa rồi hơ trên ngọn đèn dầu, khi đầu kim đỏ là cắm phập vào da lợn.

Muội khói của các vết xăm này sẽ lưu lại và giống hệt như lỗ chân lông của lợn đã cạo sạch. Chỉ trong 3 giờ, một người có thể xăm kín một con lợn nái cả tạ thịt. Mỗi công xăm lông được trả 150.000 đồng một ngày.

Chỉ với công nghệ chế biến đơn giản trên, một kg lợn rừng giả được bán với giá 120.000 đồng. Trừ chi phí, một con lợn nái họ bỏ túi cả chục triệu đồng. Vì siêu lợi nhuận, lại quá đơn giản nên ở khu vực ấp 1, Xuân Hưng, có rất nhiều lò của ông Mừng, bà Lẹ, ông Trung, bà Út Dưng, bà Hường. Đặc biệt, lò bà Nga mỗi ngày “sản xuất” cả tấn thịt và thường vận chuyển vào TP HCM bỏ mối.

Với hàng loạt lò chế biến và hoạt động công khai từ nhiều năm qua, nhưng duy nhất một lần vào ngày 29/7, tổ kiểm tra liên ngành huyện Xuân Lộc mới phát hiện một vụ. Theo đó, qua kiểm tra lò chế biến của ông Nguyễn Việt Hùng, ông Hùng đã thừa nhận mình “hô biến” lợn nái thành lợn rừng để bán kiếm lời.

Ngoài công nghệ chế biến lợn nái thành “lợn rừng”, nhiều lò ở xã Xuân Hưng còn “sản xuất” ra đủ loại thịt giả khác, đánh lừa người tiêu dùng: Voọc khô làm từ bò vụn cán mỏng, bán với giá 400.000 đồng một kg; nai khô thực chất cũng là thịt bò; thịt đà điểu cũng là thịt bò xắt mỏng, sau đó bỏ huyết lợn vào xốc trộn đều cho thịt có màu đỏ rực như thịt đà điểu rồi bỏ vào hộp vài trăm gram bán với giá 100.000 đồng một hộp.

Đặc biệt, khi mua bao tử nhím về ngâm rượu chữa bệnh đau dạ dày thì hãy coi chừng. Người ta thường đến các tiệm thịt cầy để đặt mua bao tử chó. Sau đó, họ băm một loại rễ cây rừng có vị đắng nhét vào dạ dày, phơi cho thật khô để teo tóp lại rồi bán mấy trăm ngàn đồng một cái.

(Theo Pháp luật TP HCM)

 

Thuần hoá lợn rừng Việt Nam

Theo TS. Võ Văn Sự, Chủ nhiệm Khoa Động vật quý hiếm – Viện chăn nuôi, chỉ lợn rừng thuần chủng mới được coi là lợn rừng, tất cả những loại lợn lai, lợn địa phương không thể được coi là lợn rừng. Việc “đánh đồng” những loại lợn khác với lợn rừng chẳng khác gì giả mạo sản phẩm, xâm hại tới quyền lợi của thực khách, đồng thời gây ngộ nhận về mặt chất lượng, giảm thấp giá trị của lợn rừng.

Viện Chăn nuôi đang tham mưu cho Cục Chăn nuôi đề ra các quy chế nhằm quản lý việc chăn nuôi lợn rừng. Chăn nuôi lợn rừng đòi hỏi kỹ thuật cao, vì vậy sẽ không khuyến khích nông dân chăn nuôi lợn rừng.

Chỉ những doanh nghiệp lớn, có trang trại rộng đủ tạo môi trường nuôi tương đương điều kiện hoang dã, có kinh nghiệm, và phải được cấp giấy phép mới được chăn nuôi lợn rừng. Việc chăn nuôi phải tuân thủ theo quy trình kỹ thuật, đảm bảo vệ sinh môi trường sinh thái và an toàn thực phẩm.

Lợn rừng sẽ được Nhà nước quản lý tới từng cá thể. Mỗi con lợn được gắn số tai, được cấp giấy chứng nhận chủng giống, lý lịch phả hệ. Tất cả lợn rừng xuất chuồng đem tiêu thụ trên thị trường đều phải có giấy này mới đảm bảo giá trị.

Thực hiện phương thức này, sẽ đảm bảo quyền lợi cho thực khách, giữ gìn uy tín “thương hiệu” của lợn rừng, đồng thời ngăn chặn được tình trạng săn bắt lợn trong rừng đem về nuôi.

Lợn rừng Thái Lan đã thuần hoá 10 năm, nhưng ở Việt Nam cách đây 4 năm, Viện Chăn nuôi mới được Nhà nước cho phép nghiên cứu để thuần hoá lợn rừng. Mong muốn của các nhà khoa học Việt Nam là sẽ có được giống lợn rừng Việt Nam, mang những tính trạng khác biệt hẳn với lợn rừng Thái Lan, sẽ được chăn nuôi đại trà tại Việt Nam, và giới thiệu, cung cấp giống ra các nước trong khu vực.

TS. Võ Văn Sự cho biết: so với lợn rừng Thái Lan, lợn rừng ViệtNam có chân thon hơn, tai đứng hơn, mõm dài hơn.

Trích từ nguồn: http://vietbao.vn/Kinh-te/Hot-bac-nho-chan-nuoi-lon-rung/65104815/88/

Căn bản về chăn nuôi heo rừng

Phần 1: NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG CHĂN NUÔI LỢN RỪNG

1- Con giống:
Về vấn đề này phần lớn bà con đều mù mờ về kiến thức. Thường chỉ nghe nói sơ qua về đặc điểm chung của lợn rừng như: Có ba lỗ chân lông, lợn con mới đẻ thì có sọc dưa… và khi đi xem giống cứ thấy lợn con có sọc dưa là mua mà không cần biết giống tốt, xấu thế nào, điều này là rất tai hại về sau. Nếu mua được giống tốt thì không sao, nhưng nếu mua phải giống không tốt sau này sẽ rất khó bán kể cả lợn giống cũng như lợn thương phẩm. Hiện đã có không ít bà con mắc vào cảnh khó khăn này nên bán cũng không xong mà nuôi cũng dở.

Vì vậy, trong vấn đề này Haihoafarm khuyến cáo bà con cần phải trang bị kiến thức cơ bản về con giống trước khi bắt tay vào nuôi để tránh những khó khăn về sau. Bà con có thể tham khảo kinh nghiệm về chọn giống lợn rừng trong mục “Chọn giống lợn rừng” hoặc cuốn sách về “Nghề nuôi lợn rừng” do Haihoafarm phối hợp với Chuyên gia Nguyễn Lân Hùng – Chuyên mục Mách nhỏ bà con – Đài Truyền hình Việt Nam và Nhà xuất bản Nông nghiệp biên soạn.

2- Bệnh tật:
Lợn rừng cũng hay mắc phải một số bệnh như: Tiêu chảy ở lợn con bú mẹ, ghẻ lở, bệnh phổi “thở rốc”, bệnh phù nề. Các bệnh này thường chỉ xuất hiện ở lợn con và dưới 20 kg. Lợn trưởng thành rất ít khi mắc bệnh. Lợn con bú mẹ tỷ lệ bị ỉa phân trắng từ 70 – 90 %. Khi phát hiện lợn con ỉa phân trắng bà con cần kiểm tra ngay nguồn thức ăn có phải là nguyên nhân không, đồng thời tiêm hoặc cho lợn uống thuốc theo chỉ dẫn của cán bộ thú y và người bán thuốc. Lợn con ỉa phân trắng không chữa trị kịp thời tỷ lệ chết từ 5 – 20%. Lợn con đã tách mẹ thỉnh thoảng bị đi ỉa chảy bà con không cần phải cho uống thuốc do bộ phận tiêu hoá của lợn ở giai đoạn này đã phát triển nên chúng chỉ bị 1 – 2 hôm rồi lại tự khỏi. Nói chung khi lợn con đã tách mẹ ( tự ăn được) thì bệnh đi ỉa không còn là vấn đề đáng lo ngại nữa.

a – Bệnh ghẻ lở: Thường do chuồng trại không đảm bảo vệ sinh hoặc trong những ngày mưa nhiều kéo dài, đặc biệt là mùa xuân ở phía bắc. Bệnh này xuất hiện ở tất cả đàn lợn, biểu hiện của bệnh này là da mốc, nứt nẻ, lông dụng, lợn ngứa hay lấy chân gãi hoặc cọ vào tường. Khi thấy triệu chứng trên cần tiêm hoặc bôi thuốc ngay, tốt nhất là tiêm vì hiệu quả cao hơn. Liều lượng theo chỉ dẫn trên bao bì mỗi loại thuốc. Nhìn chung khi lợn mắc phải bệnh này nếu phát hiện sớm và chữa trị kịp thời thì khả năng khỏi bệnh là 100% và là loại bệnh không quá phải lo ngại.

b - Bệnh phổi “Thở rốc”: Nguyên nhân của loại bệnh này là do thời tiết thay đổi, chuồng trại ẩm thấp, không đảm bảo vệ sinh. Đây là loại bệnh tương đối nguy hiểm và có cơ chế truyền nhiễm.Vì vậy, nếu phát hiện lợn bị bệnh tốt nhất là cách li ngay và tiêm thuốc. Triệu chứng là lợn bỏ ăn, lông xù, chậm chạp và thở rốc, bệnh phát triển rất nhanh, sáng cho ăn vẫn bình thường nhưng có thể đến trưa triệu chứng của bệnh đã rõ rệt, bệnh thường xuất hiện ở loại từ 10 – 25kg. Nếu chữa trị kịp thời khả năng khỏi bệnh là 95%, không chữa trị hoặc chữa trị không kịp thời (Để 2 – 3 ngày sau mới tiêm) thì khả năng tử vong là 70%. Đây là loại bệnh đáng lo ngại, bà con cần phải hết sức lưu tâm.

c - Bệnh phù nề: Cũng thường xuất hiện ở lợn từ 10 – 25 kg. Nguyên nhân do chuồng trại ẩm thấp, không vệ sinh, nguồn thức ăn thay đổi đột ngột, lợn vận chuyển lâu ngày qua các vùng địa lý khác nhau. Triệu chứng của bệnh là mắt đỏ rồi sưng vành mi mắt, sưng đầu, đi loạng choạng, lao đầu về phía trước. Đây là bệnh cực kỳ nguy hiểm, khi bị mắc bệnh này thì khả năng chữa khỏi bệnh gần như là không thể. Nên áp dụng các biện pháp để phòng ngừa là giải pháp tối ưu.

3- Đầu ra của sản phẩm: 
Nhiều người quyết định nuôi chỉ vì nghe những thông tin đường mật ở đâu đó, rằng nuôi lợn rừng là “Hốt bạc, lãi to…” nhưng không lường hết những khó khăn cùng đầu ra của sản phẩm ra sao? Nên sau khi nuôi, có sản phẩm rồi không biết bán cho ai và bán ở đâu? Cơ sở cung cấp giống thì không bao tiêu sản phẩm… dẫn đến cảnh tiến thoái lưỡng nan. Vì vậy, khi quyết định nuôi ngoài việc tìm hiểu kỹ con giống bà con cũng cần nghĩ đến việc có đầu ra cho sản phẩm sau này hay không, bà con nên thoản thuận với cơ sở cung cấp giống về việc lo đầu ra cho mình sau này. Nếu cơ sở đó từ chối thì nhiều khả năng cơ sở đó chỉ bán giống để thu lợi hoặc con giống không đảm bảo chất lượng nên không nhận bao tiêu sau này.

Trên đây là một số khó khăn trong quá trình nuôi lợn rừng mà Haihoafarm muốn chia sẻ cùng bà con. Chúc bà con khắc phục được những khó khăn và nuôi lợn rừng thành công. Kỳ sau Haihoafarm sẽ chia sẻ với bà con về một số ưu điểm nuôi lợn rừng so với các con vật nuôi khác. Hoặc bà con có thể liên hệ với phòng khuyến nông các huyện trên cả nước để mua cuốn sách về “Nghề nuôi lợn rừng” do Haihoafarm phối hợp với chuyên gia Nguyễn Lâm Hùng – Chuyên mục Mách nhỏ bà con – Đài truyền hình Việt Nam và Nhà xuất bản Nông nghiệp biên soạn.

Phần 2: CHỌN GIỐNG LỢN RỪNG

Vài năm trở lại đây ngày càng có nhiều hộ gia đình tìm hiểu và chăn nuôi lợn rừng. Để chọn được con giống có chất lượng, đảm bảo cho đầu ra của mình sau này. Haihoafarm xin chia sẻ cùng bà con một số kinh nghiệm chọn lợn rừng giống bố mẹ. Lý do Haihoafarm chia sẻ kinh nghiệm cho bà con là vì:

Chi phí con giống tương đối đắt.
Lợn nuôi là lợn rừng nên phần tướng mạo con lợn rất quan trọng, điều này có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiêu thụ sản phẩm của mình sau này kể cả bán con giống cũng như bán thịt, khách hàng luôn luôn quan tâm đến tướng mạo hình dáng con lợn. Nếu tướng mạo lợn rừng bố mẹ mà giống như con lợn ỉ thì chắc chắn khi tiêu thụ sẽ rất khó và mất giá.

Vì vậy khi chọn giống cần lưu ý một số đặc điểm sau:

1- Trước tiên bà con nên đi thăm quan tìm hiểu con giống tại các cơ sở cấp giống, để có sự so sánh, không nên chỉ xem ở một cơ sở rồi mua giống như vậy sẽ không chọn được con giống tốt nhất.
2- Vì lợn giống mua về nuôi còn nhỏ nên nhiều đặc điểm trên cơ thể chưa phát tướng, do đó khi mua bà con cần tìm hiểu kỹ con bố mẹ.

Lợn bố mẹ mõm phải dài, nhọn và thẳng. Đầu nhỏ hình tam giác nhọn không có thịt, về cơ bản đầu chỉ có da bọc hộp sọ mặc dù phần thân thon chắc không gầy. Đây là đặc điểm chứng tỏ giống lợn đó có tỷ lệ nạc cao hơn so với những con nuôi cùng một chế độ dinh dưỡng mà không có đặc điểm đó.

Tiếp đến là cổ phải dài, thắt ngẫng, không có má, đặc điểm này đối với lợn mẹ chứng tỏ con lợn đó sẽ mắn đẻ, đẻ sai ( giống như vịt ta cổ thắt mắt treo đẻ khoẻ), nuôi con khéo. Phần thân phải cao, dài, lưng thẳng, chân thẳng. Lợn mẹ bụng vừa phải, khi không mang thai phải trở lại dạng bụng bồ kết, trọng lượng cơ thể vừa phải ( Lợn mẹ không nên vượt quá 50 kg).

Lợn bố bờm phải rậm, lông bờm dài, trông dữ tướng, màu lông lý tưởng là 1/3 phần đầu lông màu nâu sẫm, còn lại 2/3 là màu đen, bụng bồ kết. Lưng phải hơi gù, hai chân trước cao hơn hai chân sau một chút tạo dáng đi giống con gấu bắc cực. Hậu môn hơi lồi, phần mông ở tư thế hơi cụp giống hình con chuột đàn như thế chứng tỏ đó là con đực tốt và khoẻ.

3- Đàn lợn con phải đều con, nhanh nhẹn. Lợn mẹ khi nuôi con phải gầy, như vậy chứng tỏ con mẹ đó tốt sữa, nuôi con khéo.
4- Mới nuôi, bà con không nên ham hố nuôi quá nhiều mà nên nuôi thử nghiệm, nhiều cũng chỉ nên nuôi khoảng 2 đôi, vì mới nuôi còn ít kinh nghiệm trong phòng chống bệnh tật và chăm sóc, nếu không may gặp rủi ro sẽ thiệt hại lớn. Một điều quan trọng nữa, bà con cũng không nên mua lợn mới nhập ở các vùng khác biệt về địa lý và môi trường sống về nuôi, vì như vậy sẽ có rủi ro về bệnh tật rất cao. Sự thay đổi đột ngột về môi trường sống, khí hậu, nguồn thức ăn, qúa trình vận chuyển lâu ngày lợn sẽ dễ mắc chứng bệnh phù lề, khi bị mắc bệnh này khả năng chữa khỏi bệnh gần như không có.

Phần 3PHỐI GIỐNG LỢN RỪNG

Trong quá trình nuôi lợn rừng, việc việc tìm hiểu và áp dụng đúng kỹ thuật trong phối giống cũng hết sức quan trọng. Để phối giống có hiệu quả cao, Haihoafarm xin chia sẻ cùng bà con một số kinh nghiệm sau:

1. Đối với lợn đực (bố): Cần có chuồng riêng cho lợn bố, không nên nhốt chung hoặc thả rông. Mục đích là để tránh lợn bố nhảy những con khác gây ảnh hưởng đến bộ phận sinh dục. Mặc khác, lợn bố được nhốt riêng, khi cho tiếp xúc với lợn cái, sự động dục của lợn đực sẽ nhạy cảm và có sức khoẻ tốt hơn. Nếu nhốt chung lợn đực với lợn cái, rất dễ làm cho lợn đực thiếu nhạy cảm và không kiểm soát được hoạt động phối giống giữa lợn cái và lợn đực đã diễn ra hay chưa. Lợn đực khoảng 25 kg trở lên là có thể cho phối giống được.

2. Đối với lợn cái: Khi quan sát thấy bộ phận sinh dục của lợn cái nở to và chuyển sang màu đỏ tươi, thì đó là dấu hiệu lợn cái đã động dục. Nếu là động dục lần đầu thì tốt nhất nên bỏ qua. Lý do là lần đầu động dục bộ phận sinh dục của lợn cái chưa hoàn thiện, trứng dụng ít, nếu cho phối giống tỷ lệ mang thai không cao, nếu được thì cũng sẽ đẻ ít con. Vì vậy, nên bỏ qua 1 hoặc 2 kỳ động dục đầu tiên.

3. Khi nào thì có thể phối giống được: Chu kỳ động dục của lợn rừng là 21 ngày giống như lợn nhà. Và thời gian động dục diễn ra trong khoảng 4 ngày. 2 ngày đầu bộ phận sinh dục của lợn cái nở to và có màu đỏ tươi. Ngày thứ 3 bắt đầu chuyển sang màu đỏ thẫm, hơi tái, đây cũng là thời điểm tốt nhất để phối giống. Vì ở thời điểm đó trứng dụng nhiều nhất và lợn cái cũng mê đực nhất.

4. Cách phối giống: Chỗ phối giống phải bằng phẳng để lợn đực dễ thao tác. Có thể cho lợn cái vào chuồng lợn đực hoặc ngược lại. Không nên cho lợn đực tiếp xúc với nhiều lợn cái khác dễ làm cho lợn đực mất tập trung. Trước khi cho phối giống khoảng 1h nên cho lợn đực ăn một vài quả trứng và cám gạo, ngô…Khi lợn đực nhảy mà lợn cái đứng yên là lợn cái đã chịu đực, nếu lợn cái vẫn còn chạy thì có nghĩa là lợn cái chưa chịu đực và nên tách lợn đực ra.

5. Để thụ thai được cao và có nhiều lợn cái: Cần cho phối làm nhiều lần, ít nhất là 2 lần vào buổi sáng và chiều tối, tránh cho phối vào trưa nóng. Khi phối giống được cần tách lợn đực ra khỏi lợn cái, lấy lần 2 mới lại cho vào. Lợn cái mang thai khoảng 3 tháng 20 ngày thì đẻ.

Phần 4: NUÔI LỢN RỪNG SAU SINH

Trong tất cả các khâu nuôi thì đây là giai đoạn khó khăn nhất của việc nuôi lợn rừng. Vì sau khi sinh nếu bà con không lắm rõ kỹ thuật nuôi thì có tới 90% lợn con sẽ bị mắc bệnh ỉa chảy, mất nước và nếu không có biện pháp chữa trị kịp thời thì khả năng dẫn đến tử vong là rất cao. Nhưng nếu áp dụng đúng kỹ thuật nuôi từ khi lợn mẹ sinh đến lúc lợn con tách mẹ (2 tháng tuổi) thì coi như khả năng thành công đạt 95% do ở độ tuổi đó lợn con đã rất khoẻ, có sức đề kháng tốt và rất ít khi bị mắc các chứng bệnh thông thường khác ở lợn.

Vậy làm thế nào để lợn con trong thời gian bú mẹ không bị ỉa chảy?

1- Phòng bệnh: Đây là cách phòng chống chủ động và ít tốn kém nhất, rất mong bà con lưu tâm. Để phòng lợn con mắc bệnh ỉa chảy. Bà con chú ý đến chế độ ăn của lợn mẹ. Cụ thể, thời gian lợn mẹ nuôi con không cho lợn mẹ ăn những loại thức ăn quá nhiều dinh dưỡng, thức ăn bị chua, ôi thối… Tốt nhất trộn cám gạo sống, bột ngô, bột sắn với nước sạch cho lợn mẹ hút, hoà thêm chút muối, mem tiêu hoá thì càng tốt. Không cần thiết phải cho lợn mẹ ăn thức ăn nấu chín, đặc biệt là thức ăn được nấu để ăn nhiều bữa trong ngày. Vì như vậy thức ăn sẽ bị chua dẫn đến lợn con bú mẹ chắc chắn bị đi ỉa.
Lợn con sinh ra vào mùa Hè và những ngày mưa nhiều dễ mắc bệnh đi ỉa hơn mùa Đông, vì vậy bà con cố gắng cho lợn mẹ nuôi con ở nơi thoáng mát vào mùa Hè và khô ráo vào những ngày mưa nếu không lợn con có khả năng bị đi ỉa tới 90%.

2- Chữa bệnh: Khi phát hiện lợn con ỉa phân trắng một mặt cần kiểm tra nguồn thức ăn xem có mất vệ sinh không, điều chỉnh chế độ ăn của lợn mẹ đồng thời phải mua thuốc đi ỉa cho uống ngay, liều lượng theo chỉ dẫn của từng loại thuốc. Nếu lợn con được khoảng 15 ngày tuổi thì chúng đã bắt đầu tập ăn, bà con nên mua loại men tiêu hoá dạng cám viên vứt ra cho lợn con nhấm nháp, loại men này có tác dụng chữa bệnh đi ỉa rất tốt, lợn con sớm làm quen với thức ăn ngoài sữa mẹ sẽ giúp lợn con lớn nhanh hơn, đồng thời giảm tác hại đối với lợn mẹ, giúp lợn mẹ sớm hồi phục thể trọng sau khi nuôi con.

Chú ý: Thời gian lợn con tập ăn bà con không nên cho ăn các loại rau, quả tươi sống, sau 2 tháng tuổi bắt đầu cho làm quen với các loại rau, củ quả, 3 tháng tuổi cho ăn bình thường như lợn trưởng thành. Chuồng nuôi phải thoáng mát, sạch sẽ, khi lợn mẹ đẻ bà con không nên can thiệp, cứ để lợn mẹ được tự nhiên, không bấn nanh lợn con, không mụng dái lợn đực. Khi lợn con ăn no thì tách mẹ (thường là 2 tháng tuổi).

Trên đây là một số kinh nghiệm nôi lợn rừng sau sinh mà Haihoafarm muốn chia sẻ cùng bà con. Chúc bà con áp dụng đúng kỹ thuật và nuôi thành công ở giai đoạn này.

Link: http://agriviet.com/home/threads/22203-Tong-hop-bai-viet-can-ban-ve-chan-nuoi-heo-rung#ixzz1djbGkUX1

Hướng dẫn nuôi heo rừng lai

(Tài liệu tham khảo)

    Ngày nay nhu cầu tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của nhân dân ngày càng cao, đặc biệt là các loai thịt đặc sản quý hiếm. Một trong những động vật hoang dã được nhiều người ViệtNamưa chuộng đó là heo rừng. Thuần hóa heo rừng, lai tạo với heo nhà đang được nhiều trang trại và các cơ sở chăn nuôi của nước ta nghiên cứu và ứng dụng.

    I. Giống và đặc điểm giống:

Tên gọi: Heo rừng lai là con lai giữa heo rừng đực với heo nái là heo địa phương thả rông của người dân tộc thường nuôi (giống heo gần như hoang dã) tạo ra con lai với ưu thế lai cao  của cả bố và mẹ: Có sức đề kháng mạnh, khả năng chịu đựng kham khổ với môi trường sống tự nhiên cao, ít dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt rất thấp. . .

Vóc dáng: Heo rừng lai cân đối, nhanh nhẹn, di chuyển linh hoạt, hơi gầy, dài đòn, lưng thẳng, bụng thon, chân dài và nhỏ, cổ dài, đầu nhỏ, mõm dài và nhọn, tai nhỏ vểnh và thính, răng nanh phát triển mạnh, da lông màu hung đen hay xám đen, một gốc chân lông có 3 ngọn, lông dọc theo sóng lưng và cổ dày, dài và cứng hơn, ánh mắt lấm lét trông hoang dã… Trọng lượng lúc trưởng thành (con đực thường lớn hơn con cái), con đực nặng 50 – 70 kg, con cái nặng 30- 40kg…

    Tập tính sinh hoạt và môi trường sống: Heo rừng lai hơi nhút nhát, thính giác, khứu giác tốt, sinh hoạt bầy đàn và chọn lọc tự nhiên thể hiện tính hoang dã… Thích sống theo bầy đàn nhỏ vài ba con, heo đực thường thích sống một mình (trừ khi heo cái động dục).

Môi trường sống thích hợp là vườn cây, trảng cỏ gần ao hồ… Thích hoạt động về ban đêm, ban ngày tìm nơi yên tĩnh, kín đáo để ngủ, nghỉ…

    Giá trị và thị trường: Thịt heo rừng lai màu hơi nhạt, không đỏ như thịt heo nhà, nhưng nhiều nạc, ít mỡ, da mỏng và dòn, thịt dòn thơm ngon rất đặc trưng, hàm lượng Cholerteron thấp, người tiêu dùng rất ưa chuộng nên bán được giá cao…

Thấy được giá trị của heo rừng, những năm gần đây, nhiều hộ gia đình ở các tỉnh như Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước… đã tổ chức thuần hoá heo rừng, tổ chức lai tạo, chăm sóc nuôi dưỡng heo rừng lai, tổ chức liên doanh, liên kết tiêu thụ sản phẩm với các nhà hàng, khách sạn ở các thành phố lớn mang lại hiệu quả kinh tế cao.

    Chọn giống và phối giống:

Chọn giống: Chọn những con đầu thanh, ngực sâu, mình nở, hoạt bát, lưng thẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông mịn, bốn chân chắc khoẻ, bộ phận sinh dục phát triển và hoạt động tốt. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà…), qua bản thân (ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng sản xuất…) và qua đời sau.

    Ghép đôi giao phối:Tốt nhất nên cho heo rừng  lai cái phối giống với heo rừng đực hoặc cho heo rừng lai cái phối giống với heo rừng lai đực để tạo ra con lai thương phẩm nuôi thịt…

    Phối giống và thời điểm phối giống thích hợp:Bỏ qua 1-2 lần động dục đầu tiên, vì cơ thể chưa hoàn thiện, trứng rụng ít,  phối giống, đậu thai hiệu quả thấp.

Chukỳ lên động dục của heo là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tuỳ theo giống, tuổi), cho nên cần theo dõi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im  là thời điểm phối giống thích hợp nhất.

Khi heo nái có dấu hiệu động dục ta cho heo đực vào vườn nuôi heo cái hay cho heo cái vào vườn nuôi heo đực. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào heo cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, heo cái không động dục trở lại, có thể heo cái đã có bầu.

    II. Chuồng trại:

Chuồng trại rất đơn giản, tuy nhiên, phải nắm vững một số đặc điểm và tập tính của heo rừng lai để bố trí chuồng trại.

Nên chọn chỗ đất cao và thoát nước để bố trí nuôi. Chỗ nuôi cũng nên có nguồn nước sạch. Nó không những cung cấp đủ nước cho heo uống mà quan trọng hơn là nó sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú tại nơi nuôi chúng và giữ được độ ẩm thích hợp.

Chuồng trại càng cách xa khu dân cư và đường sá càng tốt. Bản năng hoang dã đã đưa chúng vào tình trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.

Ta có thể nuôi heo rừng lai theo kiểu nhốt trong chuồng hoặc nuôi theo kiều thả rông trong những khu vực có cây xanh, có rào che chắn xung quanh. Điều quan trọng là hệ thống hàng rào phải hết sức chắc chắn. Ta có thể vây lưới B40 thành các vườn nuôi tự nhiên; có móng kiên cố (vì heo rừng lai hay đào hang), mỗi vườn nuôi rộng 50-100m2 (tuỳ theo khả năng đất đai) trong đó có chuồng nuôi rộng 20- 30m2 nuôi khoảng 4- 5 heo cái trưởng thành, chúng sẽ sống và sinh sản trực tiếp trung khu vực này. Heo đực giống nuôi riêng, mỗi con một vườn, mỗi vườn nuôi rộng 40- 50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2 . Chuồng nuôi, có mái che mưa, che nắng, cao trên 2,5m; nền đất tự nhiên, có độ dốc 2-3%… đảm bảo thông thoáng, sạch sẽ, mát mẻ.

Với quy mô ban đầu nuôi 10 con (1 đực, 9 cái) cần có 3 vườn nuôi. Hai vườn nuôi heo cái sinh sản, mỗi vườn rộng 50-100m2 trong đó có 2 chuồng nuôi, mỗi chuồng rộng 20- 30m2. Một vườn nuôi heo đực giống rộng 40- 50m2 trong đó có chuồng nuôi rộng 5-10m2

    III. Thức ăn và khẩu phần thức ăn:

Bao gồm, thức ăn xanh tươi (cỏ, cây các loại), thức ăn tinh (hạt ngũ cốc, củ quả, mầm cây, rễ cây các loại), muối khoáng như tro bếp, đất sét, hỗn hợp đá liếm… Thực tế cho thấy, heo rừng thường tìm đến nương rẫy mới đốt kiếm tro, đất sét để ăn.

Khẩu phần thức ăn cho heo rừng lai thông thường: 50% là rau, củ, quả các loại (có thể sản xuất tại trang trại), 50% là cám, gạo, ngũ cốc các loại, hèm bia, bã đậu… Mỗi ngày cho ăn 2 lần (sáng, chiều), một con heo lai trưởng thành tiêu thụ hết khoảng 2,0 -3,0kg thức ăn các loại.

Thức ăn cho heo rừng lai, do con người cung cấp có thể thiếu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng và sinh tố… cho nên ngoài việc bổ sung thức ăn tinh giàu đạm, sinh tố, cần thiết phải bổ sung thêm đá liếm cho heo. Hỗn hợp đá liếm bổ sung khoáng có thể mua hay tự trộn theo tỷ lệ (muối ăn 100g; sắt sunphát 100g; đồng sunphát 50g; diêm sinh 100g; vôi tôi 1.000g… đất sét vừa đủ 3kg) cho heo liếm tự do cũng chỉ hết khoảng 20-25 gam/con/ ngày.

Thức ăn của heo rừng lai chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi heo rừng lai vì nó sẽ làm cho phẩm chất thịt của heo rừng lai bị biến đổi và nhiều khi làm cho heo bị bệnh tiêu chảy…

Heo ăn thức ăn xanh tươi ít uống nước, tuy nhiên cũng cần có đủ nước sạch và mát cho heo uống tự do. Nước không có ý nghĩa về mặt dinh dưỡng, nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của heo, nhất là khi thời tiết nắng nóng…

Hàng ngày phải vệ sinh chuồng trại, dọn bỏ thức ăn thừa, rửa sạch máng ăn, máng uống…

IV. Chăm sóc nuôi dưỡng:

Heo rừng lai thích hợp với phương thức nuôi chăn thả trong vườn cây có rào dậu hay chăn thả tự nhiên, ít có sự tác động của con người. Heo rừng lai rất dễ nuôi, hiệu quả kinh tế cao.

Khẩu phần thức ăn chủ yếu là thức ăn tươi sống, rau, củ quả, mầm cây, rễ cây, thức ăn tinh gồm hạt ngũ cốc các loại, thức ăn bổ sung muối khoáng như tro bếp, đất sét. . . Ngoài ra, cũng có thể bổ sung vào chuồng nuôi hoặc vườn nuôi chăn thả một số thức ăn tinh hỗn hợp, xương, bột xương, bột sò, hỗn hợp đá liếm… cho heo ăn tự do có vậy thì răng nanh mới bị cùn bớt.

Heo đực giống: Quản lý và chăm sóc tốt, 1 heo đực có thể phối 5- 10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm. Ngày phối giống bổ sung thêm thức ăn tinh, 1 -2 quả trứng, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do…

Heo cái giống: Heo rừng lai mắn đẻ, đẻ nhiều con, mỗi năm có thể đẻ 2 lứa, mỗi lứa 6-7 con, cá biệt có lứa đẻ 9-10 con và khéo nuôi con (nuôi con rất giỏi). Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bầy khi con lớn…

Heo rừng lai sinh sản tự nhiên quanh năm. Vấn đề cơ bản là theo dõi biểu hiện lên giống và xác định thời điểm phối giống thích hợp. Thời gian mang thai 3 tháng, 3 tuần, 3 ngày (114 – 115 ngày) thì đẻ.

Đối với heo nái mang thai, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường rau, củ, quả, hạt ngũ cốc các loại… có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, 15g muối, 20g khoáng mỗi ngày. Sau 2 tháng đến khi đẻ cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố… Ngày heo đẻ có thể cho heo ăn cháo loãng, ít muối, ít rau xanh để đề phòng sốt sữa… Heo mang thai nên nuôi riêng để tiện chăm sóc nuôi dưỡng…

Đối vối heo nái nuôi con, khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại. Khi heo con được 1,5 – 2 tháng tuổi đã ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cho mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo nái động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.

    Heo con:

Heo sơ sinh màu lông đen, có những sọc nâu vàng chạy dọc thân, không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ. 15-20 ngày chạy lon ton và bắt đầu tập ăn cỏ, cây. Heo con được 1,5-2 tháng tuổi đã cứng cáp, ăn được thức ăn do con người cung cấp thì cai sữa, tách bầy làm giống…

Heo sơ sinh có thể đạt 300-500 gr/con, 1 tháng tuổi 3-5 kg, 2 tháng tuổi 8-10 kg, 6 tháng tuổi 20- 25 kg, 12 tháng tuổi có thể đạt 60 – 70% trọng lượng trưởng thành. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 6 tháng nuôi, heo con có thể đạt trọng lượng 25kg và bán thịt.

Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.

    V. Công tác thú y:

Heo rừng lai là vật nuôi mới được lai tạo, sức đề phòng cao, ít dịch bệnh. Tuy nhiên, heo rừng lai cũng thường bị một số bệnh như: Dịch tả, tiêu chảy, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh sán lá, bệnh ghẻ lở và một số bệnh khác…

Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hoá có thể dùng các loại thuốc trị đau bụng, sình bụng, đầy hơi, khó tiêu… Cho uống hay chích, hoặc có thể dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc bổ sung thức ăn, nước uống đắng, chát như ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa… cũng có thể khỏi.

Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng, chuồng trại luôn sạch sẽ… Cần áp dụng tốt các biện pháp an toàn sinh học như Vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh… định kì tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm như phó thương hàn, dịch tả, lở mồm long móng (FMD), E.coli, dại… theo đặc điểm dịch tễ học của vùng và qui định của cơ quan thú y.

Khi thời tiết thay đổi hoặc trạng thái sức khoẻ đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức ăn hoặc nước uống cho heo theo quy trình “dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày, cứ thế cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều phòng chỉ bằng 1/2-1/3 liều điều trị…

Phương pháp chọn heo rừng lai giữ lại làm giống 

 

Chọn giống là việc lựa chọn và giữ làm giống những con đạt tiêu chuẩn về phẩm chất giống.

Chọn giống được thực hiện thông qua quan sát ngoại hình, xem xét các số liệu ghi chép qua theo dõi về sinh trưởng, sinh sản của cá thể, của cha mẹ anh chị em để quyết định chọn giữ lại những cá thể phù hợp để nuôi thịt hay làm nái, nọc giống.

Chọn heo sinh sản nên chọn những con có tính tình hiền lành, khỏe mạnh, đầu thanh, ngực sâu, lưng thẳng, bụng to vừa phải, hông rộng, lông mịn, bốn chân chắc  khoẻ, bộ phận sinh dục phát triển, không mắc bệnh truyền nhiễm hay ký sinh trùng.  Hình dáng bên ngoài và sự cấu tạo cơ thể phù hợp với đặc điểm giống và mục đích sinh sản. Nếu có điều kiện nên chọn lọc qua đời trước (dòng, giống bố mẹ, ông bà) về ngoại hình, khả năng thích nghi, khả năng sản xuất,…. Tuy nhiên, muốn chọn lọc được  giống tốt phải theo dõi, lập sổ lý lịch, gắn số tai (nếu có thể) hoặc lập phiếu cá thể gắn  trên chuồng để theo dõi năng suất cá thể.

Chọn heo đực giống

Chọn và mua về lúc 6 tháng tuổi
Bắt đầu khai thác khi đạt 7 – 8 tháng tuổi
Phải mang những đặc điểm giống tốt đặc trưng cho loài: Đầu thanh, mặt dài, lưng thẳng, bụng thon không sệ, 4 chân cao, thẳng và vững chắc, lông bờm dựng đứng chạy dài từ cổ tới lưng, tinh hoàn lộ rõ, to và cân đối, độ đàn hồi tốt, số con đẻ ra có tỷ lệ nuôi sống cao, mang tính “hoang dã”, dữ tợn.

Tỉ lệ heo cái/ đực là 5: 1 đối với đực trưởng thành và 3: 1 đối với đực dưới 1 năm tuổi.

Chọn heo cái giống

Cái hậu bị  mua lúc 4 – 6 tháng tuổi. Từ đàn cái hậu bị này sẽ tiến hành kiểm tra, đánh giá, chọn lọc giữ lại làm nái sinh sản.

Chọn lọc nái sinh sản không có khuyết tật, để không ảnh hưởng tới khả năng sinh sản và nuôi con. Cần quan tâm tới 3 bộ phận: cơ quan sinh dục, vú và khung xương. Thông thường, nái được chọn cần đạt được những yêu cầu tối thiểu như sau: toàn đàn hậu bị có cơ quan sinh dục phát triển bình thường cả về hình thể và hoạt động, khung xương và 4 chân chắc, khỏe, nhanh nhẹn  và linh hoạt, số con đẻ ra/ lứa cao, heo mẹ không ăn con và có số vú đủ để nuôi đàn con đông, thông thường heo rừng lai có 5 đôi vú xếp đồng đều mỗi bên, những nái có vú cong vênh, khô hoặc kẹ sẽ không được chọn.

*Theo khuyennongtphcm.com

Kỹ Thuật Sinh sản heo rừng

Có ý nghĩa quan trọng trong việc gây đàn. Quản lý và chăm sóc tốt 1 heo đực có thể phối 5-10 heo cái. Heo đực giống phải nuôi riêng và có chế độ bồi dưỡng, nhất là thức ăn tinh giàu đạm, khoáng, sinh tố. Ngày phối giống nên bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, 1 -2 quả trứng gà, muối khoáng, sinh tố cho ăn tự do

 

Heo cái giống:

Heo rừng sinh sản tự nhiên quanh năm. Vấn đề cơ bản là theo dõi biểu hiện lên giống và xác định thời điểm phối giống thích hợp. Thời gian mang thai 114 -115 ngày như heo nhà. Mỗi năm có thể đẻ 2 lứa, trung bình mỗi lứa 6-7 con, nhưng cũng có lứa lên đến 9-10 con và khéo nuôi con (nuôi con rất giỏi). Trong tự nhiên, khi đẻ heo mẹ tự chăm sóc, nuôi dưỡng con cái và tự tách bầy khi con lớn.

 

Đối với heo nái mang thai, 2 tháng đầu mang thai cho ăn khẩu phần thức ăn bình thường rau, củ, quả, hạt, cám, ngũ cốc các loại… có thể bổ sung thêm thức ăn tinh hỗn hợp, Sau 2 tháng đến khi đẻ cần thiết phải bổ sung thêm thức ăn tinh giàu dinh dưỡng, nhất là đạm, khoáng, sinh tố…

Đối với heo nái nuôi con, khẩu phần thức ăn phải đảm bảo số lượng, chất lượng và chủng loại… Khi heo con được 1,5-2 tháng tuổi, đã tự ăn được thức ăn thì cho heo mẹ ăn khẩu phần ăn bình thường. Không nên phối giống cho heo mẹ động dục trong thời kỳ nuôi con, vì khó thụ thai hoặc thụ thai nhưng số lượng và chất lượng heo con sinh ra không đạt yêu cầu.

Heo con:

Heo sơ sinh màu lông đen, có những sọc nâu vàng hay nâu đen chạy dọc thân. Các sọc này mờ dần và biến mất sau 2 đến 4 tháng.

Heo con không cần đỡ đẻ, cắt rốn, chỉ khoảng 30 phút đến 1 tiếng đồng hồ heo con đã có thể đứng dậy bú mẹ, 3-5 ngày chạy tới lui và 15-20 ngày bắt đầu tập ăn cỏ, cây, rau, củ. Heo con được 1,5-2 tháng tuổi đã cứng cáp, tự ăn được thức ăn thì cai sữa, tách bầy làm giống hay bán giống ra thị trường.

 

Heo sơ sinh có thể đạt 300- 500 gr/con, 1 tháng tuổi 3-5 kg, 2 tháng tuổi 8-10 kg. Với cách nuôi và chế độ dinh dưỡng thông thường, sau 3-4 tháng heo con đạt trọng lượng 12-18 kg thích hợp để bán giống hay sau 6 tháng nuôi, heo con có thể đạt trọng lượng 25- 30 kg và bán thịt. Sau 12 tháng có thể đạt khối lượng 50-80kg.

Để heo con sinh trưởng, phát triển tốt, nên tạo điều kiện cho heo con bú sữa đầu càng sớm, cảng tốt, chậm nhất 1 -2 giờ sau khi sinh. Hàng ngày, nên cho heo con vận động và tiếp xúc gần gũi với con người.

Phối giống:

Chukỳ lên động dục của heo là 21 ngày, thời gian động dục kéo dài 3-5 ngày. Thời điểm phối giống thích hợp vào cuối ngày thứ 2 hoặc đầu ngày thứ 3 (tuỳ theo giống, tuổi), cho nên cần theo dõi biểu hiện của heo lên giống. Khi âm hộ chuyển từ màu hồng tươi sang màu hồng tái, có nếp nhăn và dịch nhờn tiết ra nhiều, tai chĩa về phía trước, có phản xạ đứng im (mê ) là thời điểm phối giống thích hợp nhất.

Khi heo cái có dấu hiệu động dục ta cho heo đực vào vườn nuôi heo cái hay cho heo cái vào vườn nuôi heo đực. Heo đực sẽ phối giống liên tục, bất kể ngày đêm đến khi nào heo cái không chịu nữa mới thôi. Có thể cho phối kép 2 lần vào lúc sáng sớm và chiều mát (hoặc ngược lại). Sau 21 ngày, heo cái không động dục trở lại, có thể heo cái đã có bầu.

Nguồn : http://heorungbinhduong.com.co/index.php?page=tintuc&matin=33

 

                          Chăn nuôi lợn rừng

 

+ Nên chọn chỗ đất cao và thoát được nước để bố trí nuôi lợn rừng. Không đưa chúng vào nơi đất thấp, trũng nước hoặc khó thoát nước. Chỗ nuôi cũng nên có nguồn nước sạch. Nó không những cung cấp đủ nước cho lợn uống mà quan trọng hơn là sẽ duy trì được hệ thực vật phong phú tại nơi nuôi chúng và giữ được độ ẩm thích hợp.

+Không nên tận dung các chuồng trại cũ đã nuôi lợn nhà để thả lợn rừng. Mầm bệnh tồn đọng của lợn nhà có thể lây sang lợn rừng. Mặt khác, khu nuôi càng cách xa khu dân cư và đường sá thì càng tốt. Bản năng hoang dã đã đưa chúng vào tình trạng hết sức cảnh giác và luôn hoảng hốt bỏ chạy khi nghe có tiếng động.

+Chỗ nuôi lợn rừng nên có nhiều cây cối, càng rậm rạp càng tốt. Con lợn rừng hung dữ nhưng lại rất nhát. Tuy nhiên, cũng nên tạo ra những diện tích trong khu nuôi được chiếu sáng trực tiếp để chúng mò ra sưởi nắng. Ta có thể nuôi chúng theo kiểu nhốt trong chuồng (như lợn nhà) hoặc nuôi theo kiểu thả rông trong những khu vực có rào chắn xung quanh. Ở Công ty Lý –Thanh -Sắc, người ta quây 1 khu trại (chiều ngang là 10m và chiều dài khoảng 80m) để thả lợn rừng. Trong khu vực đó trồng kín sắn và tre. Họ cũng lợp cho chúng 1 cái lều để trú mưa. Chúng sống chui rúc trong bụi rậm là chính. Điều quan trọng là hệ thống hàng rào phải hết sức chắc chắn. Ta có thể xây tường hoặc quây lưới B40 xung quanh khu nuôi. Phải đề phòng chúng đào hốc để chui ra.

Lúc đầu đưa lợn rừng về nuôi, chúng thường hoảng sợ và chạy trốn. Đôi khi, chúng tức giận, lồng lộn và luôn tìm cách phá chuồng để ra. Ta phải bình tĩnh và luôn đối xử nhẹ nhàng với chúng. Thời gian đầu nó có thể không chịu ăn và nhịn đói. Nhưng nó không nhịn khát được. Vì vậy,phải chuẩn bị từ trước máng nước cho chúng uống. Sau một thời gian, biết chắc không thể vượt đi được,l ợn sẽ dần dần thích ứng với chỗ ở mới và tìm tới thức ăn.

Thức ăn của lợn rừng chủ yếu là thực vật. Không nên lạm dụng thức ăn giàu dinh dưỡng để nuôi lợn rừng vì nó sẽ làm cho chất lượng của lợn rừng bị biến đổi và đôi khi lợn lại bị bệnh tiêu chảy.

Có 2 loại thức ăn:

-Thức ăn thô gồm: Cây chuối, bẹ chuối, thân cây ngô non, rau muống, rau lấp, bèo tây, các loại cỏ, các loại quả xanh v.v..

-Thức ăn tinh: Là loại thức ăn ít chất xơ và có thành phần dinh dưỡng cao hơn. Nó gồm: Gạo, cám, ngô, đậu, khoai, sắn v.v. Ứng với từng giai đoạn ta phải bố trí lượng thức ăn cho phù hợp và khống chế khẩu phần.

Cũng cần làm tốt công tác phòng, chống bệnh cho chúng. Lợn rừng thường mắc một số bệnh như: Dịch tả, tiêu chảy, tụ huyết trùng, lở mồm long móng, bệnh sán lá, bệnh ghẻ lở và một số bệnh khác.Khi phát bệnh, ta phải cho chúng cách ly và tìm cách chạy chữa như đối với lợn nhà.

Việc nhân giống lợn rừng có thể theo hướng tạo dòng thuần chủng hoặc tạo ra các thế hệ con lai. Điều bắt buộc là con đực luôn luôn luôn phải là lợn rừng thuần chủng.

Tuy phải tuân thủ nhiều nguyên tắc nhưng nhìn chung, nuôi lợn rừng cũng chả khó. Trong lúc, thị trường đòi hỏi rất nhiều thịt lợn rừng.Vì vậy đây cũng là một nghề nên làm.

Chúng tôi đang cố gắng hoàn thiện một tài liệu để giúp bà con có được những kiến thức cần thiết khi bắt tay vào nuôi lợn rừng.Hy vọng, hai tháng nữa sách sẽ tới được tay của những người muốn nuôi lợn rừng.

 

                           ĐẶC ĐIỂM CÁC LOẠI LỢN RỪNG

 – Lợn rừng Thái lan: Đặc điểm bố mẹ to béo, cổ ngắn má phị, lợn mẹ khi mang thai lứa đầu khoảng 60 – 70 kg, các lứa sau từ 80 – hơn 100kg, mõm to, tai to, màu lông thường là vàng bợt, đẻ nhiều con (6-9/lứa), nuôi nhanh lớn, chất lượng thịt kén, do tỷ lệ mỡ cao ngay cả khi áp dụng đúng kỹ thuật nuôi thì giống lợn này vẫn có mỡ nên khó bán và không được giá.

– Lợn rừng Việt Nam Thuần; Mẹ nhỏ, thường chỉ từ 35 – 50 kg, mõm dài và nhọn, đầu nhỏ, tai nhỏ, cổ dài thắt ngẫng, không có má, đẻ ít con, lợn chậm lớn, màu lông thường là hung đen, áp dụng đúng kỹ thuật nuôi thì về cơ bản không có mỡ (97% là thịt nạc). loại này bán được giá và được thị trường ưa chuộng. Tuy nhiên rừng thuần Việt đối với lợn con mới đẻ nuôi rất khó và hay bị chết do hay bị bệnh đi phân trắng. Lợn mẹ thường đẻ ít con (2-3 con/lứa) nên hiệu quả không cao. Chỉ nên nuôi bố rừng Việt còn mẹ là rừng Việt lai Thái ở đời F4 trở lên là tốt nhất.

– Lợn rừng Việt Nam lai Thái Lan đời F4, F5: Đây được coi là loại giống ưu việt nhất, do con giống ở đời này đã loại bỏ được những nhược điểm ở lợn rừng Thái và phát huy được những ưu điểm của lợn rừng Việt Nam, lợn mẹ trưởng thành cũng chỉ khoảng 35 – 60 kg, mõm dài và nhọn, cổ dài thắt ngẫn, tai nhỏ, đầu nhỏ, không có má, dáng cao, thân dài, màu lông thường là hung đen, đẻ con vừa phải (khoảng 5 – 6 con/lứa). Áp dụng đúng kỹ thuật nuôi lợn không có mỡ (95% là thịt nạc), bán được giá và được thị trường ưu chuộng.

Nguồn: http://haihoafarm.com/

Làm giàu từ nghề nuôi heo rừng

Những năm gần đây, nhiều nông dân ở các tỉnh, thành phố của vùng đồng bằng sông Cửu Long đã tận dụng diện tích đất vườn cạnh nhà, xây dựng chuồng trại để nuôi heo rừng. Trung bình, heo rừng giống đạt trên dưới 10kg có thể xuất bán trên 2,5 triệu đồng/con.Ở tỉnh Bến tre hiện có không ít hộ nông dân nuôi cả ngàn con heo rừng các loại. Hằng năm, các hộ nuôi xuất bán heo rừng giống và thịt heo rừng thương phẩm, thu nhập từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng/hộ.

Anh Nguyễn Quang Huệ ở xã An Bình Tây, huyện Ba Tri (Bến Tre) cho biết: “Heo rừng là loài động vật hoang dã. Mặc dù, khi nuôi phải đăng ký với cơ quan kiểm lâm; chi phí đầu tư mua con giống và xây dựng chuồng nuôi ban đầu khá cao, nhưng heo rừng dễ nuôi, ăn tạp, chăm sóc và theo dõi không khó, ít bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp; khi được chăm sóc tốt heo rất mau lớn”.

Chuồng nuôi heo rừng được thiết kế rất đơn giản bằng cách xây cột bằng xi măng hay cột gỗ trên một khoảng sân trống hình chữ nhật. Cột xây hoặc trồng cao khoảng 1m bao quanh bằng lưới B40 và có cửa mở ra vào chắc chắn. Bên trong chuồng, được thiết kế mặt bằng xi măng hoặc bằng đất và một cái hồ nước để heo xuống nước tắm dễ dàng.

Anh Nguyễn Quang Huệ hiện có chuồng nuôi trong vườn cạnh nhà với hơn 100 con heo rừng các loại. Anh tâm sự: “Trước đây, tôi là chủ trang trại nuôi bò và nuôi cá… Nhưng làm ăn không hiệu quả do giá bò, cá bấp bênh nên sau khi học hỏi kỹ thuật nuôi heo rừng của những người quen, tôi quyết định đầu tư vốn xây chuồng và cho trồng chuối, rau muống, rau trai các loại trong vườn nhà rồi mua 7 con heo rừng giống đem về thả nuôi. Đến nay, đàn heo đã phát triển lên rất nhiều, tôi vừa cung cấp heo rừng giống và heo rừng thịt cho những người có nhu cầu khắp nơi”.

Anh Huệ nuôi heo rừng chủ yếu là: tấm cám, lục bình, thân cây chuối xắt nhỏ và rau, củ, cỏ các loại… Bình quân, đầu tư trên dưới 30.000đồng thức ăn/ngày, sau 12 tháng nuôi, con heo rừng sẽ đạt trọng lượng trên 100kg. Nói về kinh nghiệm khi cho heo rừng phối giống, anh Huệ bộc bạch: “Lúc heo rừng cái động đực lần đầu, tôi không vội cho phối giống mà phải chờ đến lần thứ hai mới cho phối giống. Như vậy sẽ đạt kết quả 100%. Thời gian heo rừng thụ thai đến khi sinh khoảng gần 4 tháng, mỗi lứa đẻ 5-7 con”. Chuồng heo rừng được anh Huệ xây dựng trải dài trên diện tích 1.500m2 trong khu vườn rộng 8.000m2. Mỗi ô chuồng được anh thiết kế khoảng 20m2. Trong thời gian nuôi, để tránh dơ chuồng và giúp đàn heo rừng phát triển nhanh, anh Huệ còn thường xuyên theo dõi nguồn thức ăn thừa – thiếu của heo, vệ sinh chuồng sạch sẽ mỗi ngày một lần và thỉnh thoảng cho phơi chuồng dưới ánh nắng mặt trời để tiêu diệt mầm bệnh. Nhờ vậy, đàn heo rừng nuôi của anh tăng trưởng nhanh, không bị bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp và sinh sản đều.

Trong thời gian nuôi từ cuối tháng 3/2009 đến nay, gia đình anh đã xuất bán được hàng chục con heo rừng giống và hàng trăm ký heo rừng thịt thương phẩm. Giá heo rừng giống được anh bán cả triệu đồng/con (bình quân 300.000đ/kg) và heo rừng thịt bán với giá 100.000đ/kg. Thế nhưng đàn heo rừng của anh nuôi không đủ để bán. Hiện tại, anh Huệ đang nuôi cả trăm con heo rừng các loại trong chuồng và đã được Chi cục Kiểm lâm tỉnh Bến Tre cấp giấy phép chứng nhận trại chăn nuôi động vật hoang dã.

Trích từ báo nông nghiệp ViệtNam

 

CHĂN NUÔI LỢN RỪNG : CHUỒNG TRẠI – PHÂN NHÓM – SỨC KHỎE

Phương thức nuôi nhốt vật nuôi ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả chăn nuôi. Hiện tại ở nước ta phương thức này áp dụng trong chăn nuôi lợn rừng có thể phân thành 3 dạng:

Dạng 1 là chuồng đơn giản kết hợp với vườn lớn được dùng làm sân chơi. Dạng 2 là chuồng đơn giản kết  hợp với sân chơi bé. Dạng 3 là dạng nuôi nhốt hoàn toàn trong chuồng xây như thể lợn công nghiệp.

Lợn rừng là loại động vật có bản năng sống trong diện tích rộng, tự do, ưa vận động. Nhờ thế con vật được hưởng không khí trong lành, ánh nắng, sức khỏe tăng lên, tiêu hao mỡ thừa, thịt săn chắc hấp dẫn thực khách. Đã xuất hiện thuật ngữ “lợn rừng công nghiệp” ám chỉ lợn rừng nuôi như lợn công nghiệp: nuôi nhốt trong chuồng xi măng chật hẹp, không sân chơi, thức ăn là cám công nghiệp, làm mất tính hấp dẫn của lợn rừng đối với người ăn. Vì vậy cần kiến thiết chuồng trại và sân chơi rộng rãi, tự do ra vào chuồng (chỉ nhốt khi cần thiết như mưa to gió lớn…).

Làm chuồng và chống rét, nóng cho lợn rừng

Không ít người nuôi lợn rừng cho rằng lợn rừng trong tự nhiên suốt đêm ngày ở ngoài trời bất chấp mưa nắng… Tuy nhiên ý nghĩ đó là sai, bởi vì trong tự nhiên lợn ẩn náu vào hang, hốc, gốc cây trể tránh mưa, nắng, khi đẻ chúng cũng biết vơ cây cỏ làm tổ cho con. Đương nhiên vì dựa vào thiên nhiên nên khi thời tiết khắc nghiệt chúng phải chịu nhiều tổn thất như chết con…

Trong các thí nghiệm của chúng tôi, khi nhiệt độ xuống 13 độ và có mưa, thì gần như 100% lợn to nhỏ đều vào chuồng nằm chen chúc cho ấm. Tương tự, khi trời nắng và nhiệt độ lên 35 độ thì chúng tìm vào chuồng và bóng râm để tránh nắng nóng. Cũng lưu ý, loài lợn nói chung không có tuyến mồ hôi, nên cần chống nóng cho chúng.

Vậy nên khi xây chuồng cho lợn rừng, cần thiết phải đủ chỗ cho chúng tránh mưa, gió, rét, nóng. Có tường/phên chắn gió, mưa, đủ độ rộng. Sân chơi càng lớn càng tốt.

Chống nóng: Chuồng, sân nên có bóng cây, dây leo, hoặc nắng quá phải che bằng lưới chống nóng (khi trời nắng 35oC, treo một tấm lưới đen diện tích 10m2, trên độ cao 2m, có thể giảm nhiệt độ xuống 32oC). Có thể làm bể tắm cho lợn. Lưu ý, có thể làm bể/máng xi măng, độ sâu tùy loại lợn to hay nhỏ, và có thể thay nước được. Không nên để nước lưu cữu trong bể vì ô nhiễm.

Chống rét: Mùa đông phải chống rét cho lợn, đặc biệt đối với lợn con. Chuồng trại nên được kín gió, nền chuồng nên lót rơm, rạ, và đặc biệt nên làm những ụ rơm treo trong chuồng để lợn có thể chui vào đó. Nếu quá rét, cần dùng đèn sưởi cho lợn con mới sinh.

Phân lợn ra các nhóm

Trong chăn nuôi công nghiệp, lợn thường được phân ra (và nuôi riêng) các loại: lợn đẻ, lợn con cai sữa, lợn nhỏ, hậu bị, chờ phối, chửa nặng, vỗ béo, lợn đực giống… Điều này giúp người nuôi đảm bảo nhu cầu khác nhau cho từng loại và qua đó tăng hiệu quả chăn nuôi. Tuy nhiên phân làm bao nhiêu nhóm, mỗi nhóm bao nhiêu con, nuôi cá thể hay tập thể… tùy thuộc vào hoàn cảnh.

Nhưng hiện tại nhiều nơi lợn các loại tuổi, đực/cái đều được nuôi tất cả vào một chỗ, cho ăn cùng một kiểu hoặc có phân nhóm cũng rất sơ sài. Nếu nuôi chung lợn đực/lợn cái có con nhỏ có thể xẩy ra việc lợn bố/mẹ ăn thịt lợn con, điều mà một số người chăn nuôi lợn rừng đã chứng kiến. Khi nuôi chung lợn to với lợn nhỏ thì lợn to sẽ tranh ăn hết của lợn nhỏ và rốt cuộc lợn to sẽ béo phị gây nên khó đẻ, đực giống “nhảy cái” kém, còn lợn nhỏ sẽ còi cọc, chậm sinh sản.

Một nhóm lợn cũng không nên để quá đông khó quan sát từng con một, nên dưới 20 con.

Nên tách riêng đực giống

Nhiều trại nuôi lợn rừng thường nhốt một đực với 5-6 cái trong một ô. Với cách này người chăn nuôi không phải để ý nhiều đến việc phối giống. Tuy nhiên thí dụ như con đực giống đó kém năng suất thì những đàn con của 5-6 con lợn cái kia cũng sẽ kém theo bố. Vì thế trong chăn nuôi công nghiệp để khai thác con đực tốt và giảm tác hại của con đực xấu người ta thường nuôi đực tách riêng, đánh giá giá trị từng con để chọn ra con tốt và dùng các con đực tốt phối giống.

Lợn cái có thể nuôi nhiều trong một ô và khi động dục chúng ta có thể dẫn lợn cái và đực đến nơi phối giống. Với cách này ta cũng kiểm soát được liệu con lợn cái có “chịu đực” hay không, điều không thể làm được khi nhốt một đực với 5-6 cái.

Chọn lọc và nhân giống

Lợn rừng nói riêng và các giống vật nuôi bản địa ViệtNamnói chung, do không được chọn lọc nên năng suất khá dao động, thí dụ như số con đẻ ra chẳng hạn, từ 2 đến 9 con. Để chọn lọc được bố mẹ tốt, phối giống tránh đồng huyết thì ta phải lập lý lịch cho từng con, theo dõi năng suất của nó, như số con đẻ ra, tăng trọng, ngoại hình…

Ngay khi cai sữa lợn con để lại làm giống hay vỗ béo để bán cũng nên được gắn số tai. Lưu ý, một con lợn rừng giá 3- 5 triệu, thì việc bỏ ra 10-20 ngàn đồng để đánh số, theo dõi là nhỏ. Nếu chọn được một con đực tốt, “đẻ” được 7-8 con sẽ mang lại lợi ích nhiều so với việc sử dụng một đực giống “đẻ” ra 2-3 con lợn con. Có thể dùng phần mềm vi tính Vietpig4 để quản lý một cách thuận tiện.

Chọn đặc điểm gì:

Trong hoàn cảnh hiện tại hai đặc điểm được xem là quan trọng nhất là: Số con đẻ ra và nuôi sống/ổ và ngoại hình. Lợn rừng vốn chưa được chọn lọc nên một ổ đẻ có thể từ 2 đến 9 con. Lợn có ngoại hình càng giống lợn rừng thuần bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Tăng trọng cũng là một đặc điểm cần chọn, tuy nhiên vì rất khó cân đo, nên ta để ý để đánh giá thể lực từng con một. Khi bán lợn nhớ ghi chép khối lượng của lợn và ngày tuổi để đánh giá mức tăng trọng.

Tỉ lệ nạc là thước đo quan trọng nhưng đây là đặc điểm khó đo, vì đa phần chúng ta bán lợn sống. Nếu mổ thịt tại các lò mổ ta có thể lấy số liệu tại đó. Độ ngọt của thịt cũng là chỉ tiêu cực kỳ quan trọng, tuy nhiên đánh giá nó là chuyện khó. Nếu có điều kiện ta nên ăn nếm thử thịt và ghi chép mức độ ngọt với các mức 1, 2, 3… Dần dần ta biết lợn cái nào, lợn đực nào, ổ nào cho thịt ngon nhất.

Lai tạo: Hiện tại đã có một số trại dùng lợn đực rừng ViệtNamthuần để lai với lợn rừng Thái Lan, đây là một cách tốt để tăng chất lượng thịt.

Vệ sinh/phòng bệnh cho lợn rừng

Đây là một vấn đề gây nhiều tranh cãi nhất giữa những người nuôi lợn rừng. Đa phần người chăn nuôi không quan tâm đến việc phòng bệnh, cho rằng trong bản chất lợn rừng rất khỏe. Nhiều trang trại chăn nuôi, đặc biệt là nông dân, nuôi lợn rừng cũng hệt như lợn nhà theo cách thức truyền thống: nuôi lẫn lộn cùng với các loài vật khác, với các giống lợn khác nhau, không tiêm phòng, không có các biện pháp cách ly với các nguồn bệnh, người tứ xứ đến thăm bất kỳ lúc nào và bất kỳ chuồng nào. Thậm chí lợn được nuôi ở những bãi trũng nước ao tù chứa bao nhiêu phân tro của nhiều con lợn khỏe và yếu. Cũng có một vài trại để xẩy ra lợn chết nhiều. Những bệnh lợn rừng hay mắc phải là tiêu chảy và viêm phổi.

Tuy nhiên trong bối cảnh dịch bệnh tràn lan của ta hiện nay thì các bệnh cần tiêm phòng là lở mồm long móng, tai xanh, tụ huyết trùng, phó thương hàn.

Nếu vệ sinh, phòng bệnh, nuôi dưỡng tốt thì tỉ lệ mắc bệnh rất thấp. Thí dụ tại Trại lợn rừng “Thạnh môn trang” (Bắc Giang), mô hình của Viện Chăn nuôi, từ tháng 1/7/2007 đến 30/9/2009 đàn giống này có 377 lượt con mà chỉ mắc 174 “bệnh” trong đó tiêu chảy: 72, viêm phổi 65, giun sán: 20, các loại khác là 13.

Theo VÕ VĂN SỰ – TRẦN CAO  - http://nongnghiep.vn

 

 

Trị bệnh cho heo rừng lai

Nhìn chung Heo rừng lai là loại động vật có sức đề kháng cao với bệnh tật hơn heo nhà. Chúng ít bệnh và thích nghi cao với môi trường sống. Tuy nhiên, heo rừng lai vẫn có thể mắc một số bệnh thông thường. Việc hiểu rõ về cách chữa trị cũng như phòng bệnh là hết sức cần thiết cho người nuôi heo. Tôi xin được chia sẻ một bài viết mà tôi có dịp đọc được để các bạn hiểu rõ hơn về cách trị bệnh cho heo rừng lai.

Trị bệnh cho heo rừng lai

Heo rừng và heo rừng lai nói chung có sức đề kháng cao, ít bệnh song vẫn có thể mắc một số bệnh như sau:

Bệnh tiêu hóa:
Khi heo rừng lai mắc một số bệnh về đường tiêu hóa (như sình bụng, đầy hơi, đầy bụng, tiêu chảy, ngộ độc thức ăn…) có thể dùng các loại thuốc trị bệnh đau bụng, đầy hơi, khó tiêu, tiêu chảy của heo nhà cho uống và chích ngừa. Dùng 5-10 kg rau dừa dại cho heo ăn hoặc có thể bổ sung thức ăn, thức uống đắng chát như lá, quả ổi xanh, cà rốt, rễ cau, rễ dừa…cũng khỏi.

Để đề phòng các bệnh về đường tiêu hóa, cần cho heo ăn những thức ăn đảm bảo vệ sinh, không bị ẩm mốc, hôi thối, không có dư lượng thuốc trừ sâu, khẩu phần ăn phải đầy đủ dinh dưỡng…

Chấn thương cơ học
Do heo rừng có khả năng tái sinh nhanh nên mau lành. Nếu chỉ bị chấn thương nhỏ thì rửa sạch và bôi thuốc sát trùng, chấn thương lớn thì rửa sạch, sát trùng trước khi khâu, chích kháng sinh tổng hợp như Amicyline, Tetracyline…

Sưng phổi
Heo rừng lai bị sưng phổi thường sốt rất cao, biếng ăn, bỏ ăn. Điều trị bằng kháng sinh tổng hợp

Táo bón
Heo bị táo bón có thể cho uống thuốc nhuận tràng hoặc cho ăn thức ăn nhuận tràng…

Ký sinh trùng đường ruột
Heo bị nhiễm ký sinh trùng đường ruột thường còi cọc, chậm lớn, trong phân có ấu trùng giun, sán. Cần thiết phải xổ sán, giun cho heo.

Ký sinh trùng ngoài da
Có các loại ve, ghẻ, ruồi, muỗi..ít khi bám trên da hút máu và truyền bệnh ở heo rừng. Và với đặc tính hoang dẫ nên heo rừng lai không sợ muỗi, côn trùng tấn công. Trường hợp heo bị ký sinh trùng ngoài da, có thể dùng thuốc sát trùng bôi, xịt. Để đề phòng bệnh ký sinh trùng ngoài da cho heo rừng lai, nên định kỳ vệ sinh, sát trùng chuồng trại và môi trường xung quanh.

Biện pháp phòng bệnh tốt nhât: Chăm sóc nuôi dưỡng tốt, ăn uống sạch sẽ, thức ăn đảm bảo vệ sinh và giá trị dinh dưỡng. Chuồng trại luôn được don dẹp sạch sẽ…Cần áp dụng tốt các biện pháp an tòan sinh học như: vệ sinh, sát trùng chuồng trại, cách ly khu vực chăn nuôi với các khu vực xung quanh…định kỳ tiêm phòng các bệnh truyền nhiễm như bệnh thương hàn, dịch tả…theo các quy định của cơ quan thú y.

Ngoài ra cũng phải hạn chế sử dụng các loại thuốc có tính tồn lưu cao và chỉ sử dụng thuốc trong những trường hợp thật cần thiết.

Khi thời thiêt thay đổi hoặc trạng thái sức khỏe của đàn heo có biểu hiện bệnh, cần thiết phải bổ sung kháng sinh vào thức an hoặc nước uống cho heo theo quy trình “dùng thuốc 3 ngày, nghỉ 7 hoặc 10 ngày, rồi dùng tiếp 3 ngày” cho đến khi đàn heo trở lại bình thường, với liều phòng chỉ bằng ½-1/3 liều điều trị…

Link: http://agriviet.com/home/threads/45219-cach-tiem-thuoc-cho-heo-rung#ixzz1b5q6Lo3o

Xây dựng chuồng trại trong chăn nuôi heo

YÊU CẦU CHUNG CỦA VIỆC THIẾT KẾ XÂY DỰNG CHUỒNG TRẠI CHĂN NUÔI HEO . Dựa trên quy mô cơ cấu đàn heo, chu kỳ nuôi (ngắn hạn hay dài hạn) để xác định mặt bằng của công trình chính và phụ phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng loại heo, thuận tiện trong việc chăm sóc và đảm bảo vệ sinh phòng dịch.

1. Chuồng trại phải ấm về mùa đông, mát về mùa hè, chống được những cơn bão giông có thể hất nước vào chuồng. Đặc biệt là phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của heo.

2. Chuồng trại phải thuận tiện cho việc phân phối thức ăn và nước uống cho heo, không làm lảng phí thức ăn và công chăm sóc nuôi dưỡng.

3. Khi xây dựng chuồng trại phải tính toán hiệu quả kinh tế (vừa đảm bảo đủ nhu cầu của chuồng nuôi nhưng lại tiết kiệm được sức lao động và nguyên vật liệu)

4. Kết hợp được các kiểu chuồng nuôi hiện đại và truyền thống để có những kiểu chuồng nuôi phù hợp với điều kiện ở ViệtNam, đồng thời có khả năng tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có của gia đình và địa phương.

5. Đảm bảo vệ sinh và an toàn dịch bệnh cho đàn lợn và sức khỏe cho con người

XÂY DỰNG MẶT BẰNG

1. Tiêu chuẩn về mặt bằng

Diện tích mặt bằng phải đảm bảo theo định mức bao gồm chổ ở, sân chơi, máng ăn máng uống và các công trình phục vụ.

-  Quy hoạch mặt bằng cho các quy mô trại

Là sự bố trí sắp xếp một cách tổng thể các dãy chuồng, các công trình phục vụ trên một mặt bằng nhằm đáp ứng được 2 yêu cầu:

- Phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng loại heo

- Đáp ứng về việc thực hiện các biện pháp kỹ thuật và việc phòng trừ dịch bệnh cho đàn gia súc và bảo vệ sức khỏe cho con người. Việc quy hoạch chuồng trại là yếu tố quyết định phát triển chăn nuôi trong một giai đoạn dài vì vậy phải đảm bảo chăn nuôi có hiệu quả kinh tế.

Riêng máng ăn, chiều cao của thành máng tùy thuộc vào từng loại heo và lứa tuổi của heo để ta thiết kế các máng ăn có thành cao từ 15 – 30 cm, nhưng thuận tiện cho việc nuôi dưỡng và vệ sinh.

2. Nguyên tắc và phương pháp tính toán mặt bằng

-  Nguyên tắc tính toán

Dựa trên quy mô cơ cấu đàn heo, chu kỳ nuôi (ngắn hạn hay dài hạn) để xác định mặt bằng của công trình chính và phụ phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng loại heo, thuận tiện trong việc chăm sóc và đảm bảo vệ sinh phòng dịch.

- Phương pháp tính

Việc tính toán mặt bằng chuồng trại chăn nuôi heo phải căn cứ vào:

- Quy mô và cơ cấu đàn heo

- Diện tích cho từng con, từng ô chuồng và từng dãy chuồng và sau đó tính cho toàn trại (tiêu chuẩn cho từng loại heo)

Tính toán nhu cầu chuồng trại phải tính đến các yếu tố sau:

- Quy mô là bao nhiêu?

- Trong 1 năm trại phải bán bao nhiêu heo con cai sữa và bao nhiêu tấn thịt lợn ra thị trường?

- Tỷ lệ loại thải đàn heo nái

- Số lứa đẻ/nái/năm

- Trọng lượng heo con cai sữa

- Số heo con cai sữa

- Thời gian động dục trở lại sau khi cai sữa heo con.

- Thời gian nghỉ để vệ sinh và tẩy uế cho trại sau 1 chu kỳ sản xuất của đàn heo

- Trọng lượng heo thịt xuất chuồng

- Tăng trọng trong giai đoạn nuôi thịt

- Thời gian chữa

- heo nái đẻ 1 con/ô                       heo đực giống 1 con/ô

- heo nái chữa 1 con/ô                   heo nái chờ phối 4 – 6/ô

- heo nái hậu bị 4 – 6 con/ô       heo thịt nhỏ 10 – 15 con/ô, heo thịt lớn 8 con/ô

Tuy nhiên sắp xếp heo nái chờ phối nên nuôi thành từng nhóm từ 4 đến 6 con/ô chuồng để thuận tiện cho việc phối giống. Phát huy đặc điểm sinh sản của heo nái, khi nhốt chung heo nái chờ phối chúng sẽ xuất hiện động dục sớm hơn.

3. Cách sắp xếp bố trí mặt bằng

- Nguyên tắc bố trí mặt bằng

Hướng chuồng phải lấy hướng gió ĐôngNam. Bố trí sắp xếp các dãy chuồng phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng loại heo. Khoảng cách giữa các chuồng phải cách xa nhau từ 1,5 – 2h (h là chiều cao của chuồng). Khoảng cách giữa 2 hồi nhà phải cách nhau từ 8 – 10m.

 

- Bố trí mặt bằng

Ngoài cổng chính vào trại là nhà trực và tiếp khách, vị trí nằm ở phía Đông nam và có hố sát trùng ở cửa vào trại. Nhà công nhân và cán bộ kỹ thuật lớn hay nhỏ tùy thuộc vào quy mô của trại và số lượng cán bộ công nhân cần ở trong trại.

- Nhà kho tạm thời để thức ăn đã được nghiền và chuẩn bị để hỗn hợp

- Nhà chế biến thức ăn tùy thuộc vào lượng đầu heo trọng trại (quy mô)

- Tháp và bể nước làm sao để cung cấp nước cho đàn heo của trại với tiêu chuẩn là:

- heo nái/100 lít/ngày đêm/1 con

- heo thịt 50lít/ngày đêm/1 con

- heo con 25 lít/ngày đêm/1 con

Từ có ta tính chung cho nhu cầu toàn trại và tính toán để có lượng nước đủ cho nhu cầu đàn heo và các hoạt động khác của toàn trại. Nhà lấy tinh, phát triển chế tinh dịch thường làm ở nơi gần với chuồng heo đực giống. Nhà chế biến phân (nằm ở phía Đông bắc của trại) tùy theo quy mô của trại để xây dựng:

Quy mô vừa thì 0,06 – 0,07 m2 / 1 con

Quy mô lớn 0,05 – 0,06 m2 / 1 con

Phải có các công trình phụ cho sinh hoạt của cán bộ và công nhân.

Sắp xếp mặt bằng cho các công trình trong 1 trại chăn nuôi heo:

1. Cổng vào 2. Nhà trực 3. Nhà công nhân kỹ thuật 4. Giếng nước 5. Tháp nước 6. Nhà lấy tinh và pha chế tinh dịch 7. Nhà kho chứa thức ăn 8. Nhà chế biến thức ăn; 9,10,11,12 các dãy chuồng nuôi; 13. Nhà chế biến phân; 14. Cổng phụ

MỘT SỐ KIỂU CHUỒNG NUÔI HEO

1. Các kiểu chuồng heo ở nước ta

Cho tới nay việc thiết kế xây dựng chuồng trại cho heo ở nước ta còn phụ thuộc vào tình hình thực tế của các cơ sở, thường chưa tuân thủ nghiêm ngặt các quy định có tính khoa học nêu như trên.

Các loại chuồng nuôi phù hợp với từng loại heo, phải đáp ứng các yêu cầu.

Thiết kế có kỹ thuật, có kinh tế, có mỹ thuật, đảm bảo tiểu khí hậu chuồng nuôi tốt. Các nhà chăn nuôi đã đưa ra một số kiểu chuồng nuôi phù hợp với điều kiện khí hậu nước ta và tận dụng được nguồn nguyên liệu sẵn có của địa phương như sau:

 2. Một số kiểu chuồng nuôi khép kín và hiện đại ở nước ta

Trong chăn nuôi heo công nghiệp có nhiều kiểu chuồng khác nhau nhưng hầu hết người chăn nuôi cũng thiết kế sao cho hợp với khí hậu của địa phương, giảm chi phí mà phải đảm bảo được tính bền vững và phù hợp với đặc điểm sinh lý của từng loại heo.

Hầu hết các dãy chuồng nuôi được thiết kế thành một hệ thống liên hoàn, trong một dãy và phân chia các khu vực cho từng loại heo, có điều hòa tiểu khí hậu chuồng nuôi.

2.1. Kiểu chuồng heo nái đẻ và nuôi con

Khi xây dựng chuồng nái đẻ và nuôi con cần phải được thiết kế có vùng cho heo con và vùng cho heo mẹ riêng biệt để tránh hiện tượng heo mẹ đè lên heo con khi chúng nằm. Có nơi tập ăn riêng (bổ sung thức ăn sớm). Chuồng nên thiết kế trên diện tích từ 4-6 m2, chia thành 2 khu vực rõ rệt. heo nái nằm và di chuyển ở giữa với chiều rộng từ 60 -65 cm, dài 2,2 – 2,25 m, có khung không chế. Có máng ăn cho heo mẹ và vòi uống nước tự động. Chú ý khi thiết kế các thanh chắn cần thiết phải để độ cao hợp lý tùy từng giống heo ngoại hay nội. Hai bên vùng heo nái nằm là heo con hoạt động. Nền chuồng của heo con nên thiết kế bằng nhựa hay gỗ. Nền chuồng của heo mẹ nên bằng bê tông.
2.2.Chuồng  nái chửa

            Chuồng  nái chửa nên thiết kế theo từng dãy, chúng chỉ cần diện tích nhỏ bằng phần của heo nái đẻ nằm để di chuyển và nằm. Khi cần thiết cho vận động tự do chúng ta phải cho heo ra các sân chơi để vận động. Chiều rộng 65 cm, chiều dài 225 cm, có máng ăn và vòi uống nước tự động.                                     

2.3. Chuồng  nái chờ phối

heo nái khi chờ phối giống cần được nuôi thành từng nhóm, cứ 4-6 con/ô, có diện tích 5-6 m2 , có máng ăn chung hay phân biệt bằng ,máng ăn tự động cho từng cá thể. Vòi uống nước tự động và có vị trí thuận lợi để vận động ở sân hay bãi chơi. Việc thiết kế chuồng heo nái chờ phối cần thiết phải có tính liên hoàn và dễ tiếp xúc với heo đực giống để điều khiển động dục cho heo nái. Khi heo nái phối giống có kết quả sẽ được chuyển đến nuôi ở các ô chuồng heo nái chửa riêng lẻ để dễ theo dõi và nuôi dưỡng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của bào thai.

2.4. Kiểu chuồng heo đực giống

Khi thiết kế chuồng nuôi heo đực giống chúng ta cần chú ý đến việc nuôi dưỡng và sửu dụng chúng để phối giống hay lấy tinh. Chuồng heo đực giống nên thiết kế kiên cố, có diện tích từ 5- 6 m, chúng phải được nhốt riêng lẽ từng con. Thành chuồng cao từ 1,4 m, nền bằng bê tông chắc chắn, tránh nền gồ gề gây xây xát móng chân của heo đực giống

2.5. Kiểu chuồng nuôi heo thịt

heo thịt thường được nuôi trong các ô rộng và nuôi thành từng nhóm, heo thịt nhỏ từ 16 – 20 con/ô, heo thịt  từ 8-10 con/ô, mỗi ô từ 7 – 10 m2. Chuồng nuôi heo thịt có thể thiết kế đa dạng các kiểu, có nền có độ dốc tốt và dễ thoát nước. Máng ăn dài để con nào cũng ăn được tiêu chuẩn ăn của chúng. Có vòi uống nước tự động có thể 2 vòi.

 

Nguồn: [http://agriviet.com]

 

………………………………………………………………………………………………………………..

Đàn heo rừng của lính biên phòng

 

(Dân Việt) – Những người lính biên phòng ở Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo (Quảng Bình) còn là những “nông dân giỏi” khi tự tay tạo dựng được một đàn heo rừng hơn 70 con, nâng cao đời sống vật chất cho bộ đội.

Keng, keng, keng…! Vừa kết thúc hồi kẻng, từ khu rừng ở phía sau Đồn Biên phòng Cha Lo, đàn heo rừng của đơn vị lũ lượt kéo nhau về chuồng. Như thường lệ, chiến sĩ Phạm Văn Nam (người được giao nhiệm vụ chăm sóc đàn heo) bê rổ thức ăn cho vào máng, đàn heo rừng vừa ăn vừa kêu ủn ỉn, trông rất vui mắt. Theo anhNam, đã thành thói quen, chỉ cần nghe tiếng kẻng vang lên là đàn heo lại chạy về để ăn.

Đàn heo rừng của lính biên phòng Cha Lo.

Thượng tá Phan Thanh Tâm – Đồn trưởng Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo cho biết, năm 2009 khi về nhận chức Đồn trưởng tại đây, anh đã chú trọng việc tăng gia sản xuất trong đơn vị nhằm cải thiện bữa ăn cho bộ đội, trong đó anh đã tìm hỏi nguồn giống và nuôi thử nghiệm 10 con lợn rừng. Do chưa có kinh nghiệm nuôi heo rừng, nên bước đầu đơn vị cũng gặp một số khó khăn. Tuy nhiên, sau một thời gian vừa nuôi, vừa tìm tòi sách báo, tài liệu hướng dẫn, đàn heo đã phát triển khá nhanh.

Theo chiến sĩ Phạm Văn Nam, so với heo nhà, heo rừng dễ nuôi hơn vì phàm ăn và ít bệnh tật. Thức ăn của heo rừng chủ yếu là thức ăn tổng hợp, gồm chuối cây thái nhỏ băm trộn với cám và cơm thừa, cá vụn. Như một “chuyên gia” chăn nuôi thực thụ,Namhướng dẫn cho chúng tôi cách chăm sóc đàn heo sao cho mang lại hiệu quả tốt nhất.

Hiện tại đàn heo rừng của Đồn Biên phòng Cha Lo đã có hơn 70 con. Từ khi có đàn heo, đến dịp lễ tết, hay có khách, đơn vị đều mổ thịt liên hoan, đồng thời cải thiện bữa ăn hàng ngày cho bộ đội.

Ngoài đàn heo rừng, những người lính biên phòng ở Đồn Biên phòng cửa khẩu quốc tế Cha Lo còn nuôi cá sấu, thỏ và bò. Các chiến sĩ còn bỏ ra nhiều ngày công để đào ao nuôi cá, cải tạo đất trồng rau luân phiên xen ghép mùa nào thức nấy. Nhờ vậy, dù đóng quân ở xa vùng dân cư, nhưng đơn vị đã chủ động được nguồn rau xanh và từ đàn lợn rừng, đàn bò… không chỉ bữa ăn và đời sống của bộ đội không ngừng được cải thiện, nâng cao mà mỗi năm còn “tiết kiệm” cho đơn vị hàng trăm triệu đồng.

Phan Phương  . trích dẫn từ bao mới .com

…………………………………………………………………………………………………………

 

Đổi đời từ heo rừng

 

Heo rừng là loài động vật hoang dã, quý hiếm. Vài năm trở lại đây, một số người dân đã nuôi thuần hóa thành công heo rừng, cho hiệu quả kinh tế khá cao. Hiện nay, ở một số địa phương trong cả nước, nghề nuôi heo rừng đã phát triển thành phong trào.

Đồng Tháp khoảng 3 năm trở lại đây, nhiều nông dân ở các huyện Châu Thành, Tháp Mười, Cao Lãnh và thành phố Cao Lãnh đã tận dụng diện tích đất vườn cạnh nhà, đầu tư vốn xây dựng chuồng trại nuôi heo rừng.

Trung bình, một con heo rừng giống trên dưới 10kg có thể xuất bán được với giá trên 1 triệu đồng. Toàn tỉnh Đồng Tháp hiện có hàng chục hộ nông dân nuôi, số lượng khoảng trên 1.000 con heo rừng các loại. Tính ra, mỗi năm mỗi hộ gia đình thu nhập từ vài chục triệu đến hàng trăm triệu đồng.

Anh Nguyễn Minh Tâm, xã Tân Nhuận Đông, huyện Châu Thành có 3 năm kinh nghiệm nuôi heo rừng cho biết: “Heo rừng là loài động vật hoang dã, ăn tạp, rất dễ tìm nguồn thức ăn nên khâu chăm sóc và theo dõi cũng không khó.

Heo rừng cũng ít bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp, khi được chăm sóc tốt và cho ăn đầy đủ, vệ sinh chuồng trại sạch heo rất mau lớn. Tuy nhiên, chi phí đầu tư mua con giống và xây dựng chuồng nuôi ban đầu rất cao và khi nuôi phải đăng ký với cơ quan kiểm lâm”.

Chuồng nuôi heo rừng phải được xây chắc chắn, bao quanh bằng lưới B40, quan trọng là cửa chuồng phải chắc chắn, tránh để heo thoát ra ngoài cắn phá. Anh Nguyễn Minh Tâm, một trong những hộ nuôi heo rừng số lượng nhiều nhất ở Châu Thành, chia sẻ: “Hơn 3 năm trước, sau khi học hỏi kỹ thuật nuôi heo rừng của những người quen ở Đông Nam bộ và Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, tôi quyết định đầu tư hàng chục triệu đồng để xây chuồng và nhờ người quen ở tỉnh Đắc Nông mua giùm 4 con heo rừng giống đem về nuôi. Đến nay, đàn heo đã phát triển lên rất nhiều, tôi vừa cung cấp heo giống lẫn heo thịt cho những người có nhu cầu”.

Anh Tâm còn cho biết thêm: “Thức ăn cho heo rừng rất dễ tìm. Bình quân, cứ đầu tư khoảng 30.000đ thức ăn/ngày, sau 12 tháng nuôi, heo sẽ đạt trọng lượng trên 100kg, nếu là heo rừng cái, mỗi năm sẽ cho sinh sản (trung bình từ 5 – 10con/đàn), lợi nhuận bán heo rừng con cũng rất đáng kể”.

Trong thời gian nuôi, để vệ sinh chuồng và giúp đàn heo rừng phát triển nhanh, người nuôi phải thường xuyên theo dõi nguồn thức ăn thừa của heo, vệ sinh chuồng sạch sẽ mỗi ngày một lần và thỉnh thoảng cho phơi chuồng dưới ánh nắng mặt trời để tiêu diệt mầm bệnh. Nhờ cách làm này, đàn heo rừng nuôi của anh Tâm tăng trưởng nhanh, không bị bệnh, tỷ lệ hao hụt thấp và sinh sản đều.

Sau hơn 3 năm chăm sóc đúng quy trình kỹ thuật hướng dẫn của cán bộ ngành nông nghiệp huyện, đàn heo rừng của anh Tâm tăng trưởng rất nhanh. Từ năm 2006 đến nay, gia đình anh đã xuất bán được hàng chục con heo rừng giống và hàng trăm ký heo rừng thịt thương phẩm, giá heo rừng giống anh bán được khoảng 1 triệu đồng/con và thịt heo rừng  anh bán với giá 100.000đ/kg. Sau khi trừ các khoản chi phí đầu tư và công chăm sóc, gia đình anh Tâm thu được hàng chục triệu đồng.

Hiện nay, nhiều người dân trong tỉnh Đồng Tháp đang tích cực học tập kỹ thuật nuôi heo rừng và mở rộng chuồng trại đầu tư nuôi heo rừng. Mô hình này đang được các ngành chức năng nghiên cứu phát huy và nhân rộng để giúp người dân nhanh chóng thoát nghèo, vươn lên ổn định cuộc sống, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển.

Trích dẫn từ  niên giám nông nghiệp – lâm nghiệp.

 

 

 

 

 

tap chi nguoi tieu dung

 

Page last updated on August 14, 2012 at 7:01 am